- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo Điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 - phạm tội tàng t…"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2019/HS-ST Ngày: 23/4/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán sơ cấp- Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thúy Hà
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Đệ
2. Bà Nguyễn Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Hùng- Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Huyền- Kiểm sát viên.
Ngày 23/4/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh- Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Văn T, sinh năm1982; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 06/12; Chức vụ: Không; Bố đẻ: Nguyễn Văn L; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị B; Có 01 con, sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không;Tạm giữ : Từ 27/12/2018; Thay đổi biện pháp ngăn chặn: Ngày 05/01/2019; Hiện bị cáo đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú thời hạn từ ngày 05/01/2019 đến ngày 04/4/2019.
Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14h30’ ngày 27/12/2018, tổ công tác Đồn Công an Nam C – Công an huyện C làm nhiệm vụ tại thôn E, xã G, huyện C, Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn T đang ngồi trên xe máy Yamaha Exciter màu xanh bạc đen, BKS: 29M1 - 518.36 có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện và thu giữ 01túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng trong túi quần phía trước bên phải của T, T khai nhận là ma túy tổng hợp.
Tổ công tác đã đưa Nguyễn Văn T cùng tang vật về trụ sở để làm việc.
Thu giữ của Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động Oppo A3S màu đen, số thuê bao: 0988135476; 01 ví giả da màu nâu bên trong ví có 01 chứng minh nhân dân, 01giấy phép lái xe hạng B2 đều mang tên Nguyễn Văn T, 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Trương Văn H và số tiền 3.200.000 đồng; 01 chiếc xe máy Yamaha Exciter màu xanh bạc đen, BKS: 29M1 - 518.36.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn T cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ gì liên quan đến vụ án.
Tại Bản Kết luận giám định số 86 ngày 03/01/2019 của Phòng Kĩ thuật hình sự-Công an thành phố Hà Nội, kết luận: tinh thể màu trắng bên trong 01 nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,260 gam. Phòng PC09 thu 0,021 gam mẫu để giám định, khối lượng ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi giám định là 0,239 gam.
Xét nghiệm nước tiểu đối với Nguyễn Văn T kết quả dương tính với ma túy.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai:
Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 27/12/2018, Nguyễn Văn T đang trên đường đi làm về thì nảy sinh nhu cầu sử dụng ma túy tổng hợp nên T đã một mình điều khiển xe máy Yamaha Exciter BKS: 29M1 - 518.36 đi đến khu vực ngã năm cầu Đ (thuộc X, huyện Y, Hà Nội) để tìm gặp và mua của 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi (chưa rõ nhân thân) 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất vào túi quần phía trước bên phải rồi đi về nhà, khi T đi đến khu vực thôn E, xã G, huyện C, Hà Nội thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện, bắt giữ.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T ngày 27/12/2018, ngoài lời khai của T không còn tài liệu nào khác, nên cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ để xử lý.
Đối với xe máy Yamaha Exciter màu xanh bạc đen, BKS: 29M1 - 518.36 và 01giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 điện thoại di động Oppo A3S màu đen, số thuê bao: 0988135476; 01 ví giả da màu nâu; 01chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn T; 01 giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Văn T và số tiền 3.200.000 đồng, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn T, không liên quan đến vụ án. Ngày 14/03/2019, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản trên cho T.
Bản Cáo trạng số 39/CT-VKSĐA ngày 01/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 27/12/2018, tại thôn E, xã G, huyện C, Thành phố Hà Nội, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,260 gam methaphetamin và bị lực lượng công an bắt giữ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do nghiện ma túy, không làm chủ được bản thân nên vẫn vi phạm. Bị cáo hứa sửa chữa và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, luận tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa 0,239g Methaphetamin là số ma túy còn lại sau khi đã trích một phần để lấy mẫu giám định được niêm phong có chữ kí bị cáo và giám định viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện C thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố.
Về hành vi và tội danh: Hồi 14h30’ ngày 27/12/2018 tại thôn E, xã G, huyện C, Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ 01 túi nilon màu trắng, kích thước (2x2)cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng là ma túy tổng hợp loại Methaphetamin cân nặng 0,260 gam.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đặc biệt là bệnh HIV/AIDS và các tệ nạn xã hội. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng bản thân nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Do đó, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng đối với bị cáo: Không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về tội lỗi của mình theo quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, tệ nạn ma túy là một vấn nạn mà xã hội đang lên án và ra sức ngăn chặn nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại Điều 46, 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa 0,239g Methaphetamin là số ma túy còn lại sau khi đã trích một phần để lấy mẫu giám định được niêm phong có chữ kí bị cáo và giám định viên (Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/4/2019 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
+ Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015;
+ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì chứa 0,239g Methaphetamin là số ma túy còn lại sau khi đã trích một phần để lấy mẫu giám định được niêm phong có chữ kí bị cáo và giám định viên (Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao vật chứng ngày 03/4/2019 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C).
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Chi cục THADS huyện Đông Anh; - UBND xã Hải Bối; - Sở TP Thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Triệu Thúy Hà |