- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Kim D Xin ly hôn anh Phạm Phương L"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim D được ly hôn anh Phạm Phương L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HÒA TỈNH PHÚ YÊN Bản án số: 35/2019/HNGĐ-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày 25/11/2019 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Minh Tâm
2. Ông Nguyễn Bảo Toàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hòa tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Nhuận – Kiểm sát viên
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019 về việc tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim D – Sinh năm: 1991
Nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Có đơn xin vắng mặt.
* Bị đơn: Anh Phạm Phương L – Sinh năm: 1991;
Nơi cư trú: Khu phố E, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình làm việc, chị Nguyễn Thị Kim D trình bày: Chị và anh Phạm Phương L tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống và đăng ký kết hôn năm 2014 tại UBND thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Trong quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do hai bên tính tình không hợp nhau, không tìm thấy tiếng nói chung trong cuộc sống. Sự việc mâu thuẫn kéo dài, hai bên gia đình cũng hòa giải cho vợ chồng hòa thuận nuôi con nhưng không có kết quả. Từ cuối năm 2018 đến nay, chị D và anh L không sống chung hay thăm hỏi gì nhau. Nay nhận thấy tình cảm không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, chị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh L để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị D và anh L có 01 con chung tên Phạm Nhật H – Sinh ngày 15/3/2016. Từ khi sống xa nhau, cháu H sống cùng mẹ, khi ly hôn chị D có nguyện vọng nuôi con chung, không yêu cầu anh Phạm Phương L cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Phương L có mặt, sinh sống tại địa phương, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Toà án nhân dân huyện Đông Hòa không lấy được lời khai của anh L và không tiến hành hoà giải được.
Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa cho rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị D được ly hôn anh L. Về con chung: Giao con chung tên Phạm Nhật H – Sinh ngày 15/3/2016 cho chị Nguyễn Thị Kim D trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Phạm Phương L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Phạm Phương L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của đương sự tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Kim D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Phạm Phương L đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Toà án xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh L tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào năm 2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, chị D và anh L xảy ra mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống nên không tìm thấy tiếng nói chung. Chị D đã tìm nhiều cách để hòa giải nhưng mâu thuẫn của chị D và anh L vẫn xảy ra và kéo dài, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu ly hôn của chị D, anh L vẫn có mặt ở địa phương. Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, lấy lời khai, hòa giải nhưng anh L không chấp hành, không hợp tác, không thể hiện ý kiến nguyện vọng gì trước yêu cầu khởi kiện của chị D. Trong khi đó, chị D kiên quyết xin được ly hôn anh L. Do đó, không thể duy trì quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh L mà cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D về việc xin ly hôn anh L, để các bên ổn định cuộc sống.
. Về con chung: Chị D và anh L có một con chung Phạm Nhật H – Sinh ngày 15/3/2016. Chị D có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy từ trước đến nay, chị D vẫn là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên tiếp tục giao con chung cho chị D nuôi dưỡng để ổn định cuộc sống của cháu.
. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.
. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về xin ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
2. Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim D.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim D được ly hôn anh Phạm Phương L.
Về con chung: Giao con chung tên Phạm Nhật H – Sinh ngày 15/3/2016 cho chị Nguyễn Thị Kim D nuôi dưỡng. Anh Phạm Phương L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Phạm Phương L có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung không ai được ngăn cản.
3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án, chị Nguyễn Thị Kim D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0014009 ngày 16/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hòa.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - VKSND huyện Đông Hoà (02); - Chi cục THADS huyện Đông Hòa; - UBND Thị trấn H; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thu |