vanban.org

Bản án 35/2019/HN-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Đời T.

[2]Về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan: Không xem xét, giải quyết. [3]Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đặng Thị Mai T phải nộp 300.000đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Đặng Thị Mai T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010695, quyển số 0214 ngày 23/01/2019 của … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-T"
  • Tòa quyết gì? [1]Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Đời T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỒNG PHÚ
TỈNH BÌNH PHƢỚC
Bản án số: 35/2019/ HN-ST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 16/7/2019
Về việc:"Ly hôn"

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƢỚC

-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quang Dũng

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thành Hạnh

Ông Đồng Văn Hoá

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Trƣơng Văn Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước: Ông Tạ Văn Phú- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2019/TLST- HN ngày 23/01/2019 về việc "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST –HN ngày 28/6/2019,giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Mai T, sinh năm 1969

Trú tại: ấp 2, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Có mặt tại phiên tòa

*Bị đơn: Ông Nguyễn Đời T, sinh năm 1963

Trú tại: ấp 4, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

-Theo đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 9 năm 2018 và tại phiên toà, nguyên đơn là bà Đặng Thị Mai T trình bày:

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Mai T và ông Nguyễn Đời T kết hôn với nhau một cách tự nguyện vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Sau khi kết hôn, bà Đặng Thị Mai T và ông Nguyễn Đời T không sống cùng gia đình mà nhà ai người đó ở. Ông Nguyễn Đời T thường hay đến nơi bà Đặng Thị Mai T cư trú để chửi bới, đánh đập bà Đặng Thị Mai T, sự việc diễn ra nhiều lần và được Công an xã Đồng Tâm can thiệp, hoà giải. Bà Đặng Thị Mai T cũng đã khuyên can ông Nguyễn Đời T nhưng ông T không nghe. Tình cảm mà bà Đặng Thị Mai T dành cho ông Nguyễn Đời T đã thực sự hết nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà Đặng Thị Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Đời T.

Về con chung và tài sản chung: Không yêu cầu xem xét, giải quyết.

-Tại bản tự khai đề ngày 23 tháng 5 năm 2019, bị đơn là ông Nguyễn Đời T trình bày.

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Đời T là chồng của bà Đặng Thị Mai T, trong cuộc sống bà Đặng Thị Mai T thường bắt ông Nguyễn Đời T làm những việc theo ý muốn của bà Đặng Thị Mai T, ông T không đồng ý, vì vậy giữa hai người thường hay cải nhau. Bà Đặng Thị Mai T làm đơn xin ly hôn với ông Nguyễn Đời T thì ông T không biết và không có ý kiến gì. Ông Nguyễn Đời T đồng ý ly hôn với bà Đặng Thị Mai T.

Về con chung và tài sản chung: Không yêu cầu xem xét, giải quyết.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn. Phân tích các tình tiết của vụ án, tài liệu, chứng cứ được kiểm tra tại phiên tòa, đối chiếu với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Về hôn nhân: Tuyên xử cho bà Đặng Thị Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Đời T.

Về con chung và tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của các bên đương sự và Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Đặng Thị Mai T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn Nguyễn Đời T. Vì vậy, đây là vụ án "Ly hôn" được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn là ông Nguyễn Đời T cư trú tại ấp 4, xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Đời T xin vắng mặt tại phiên toà, áp dụng điểm Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để mở phiên toà xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về yêu cầu của đương sự:

Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Mai T và ông Nguyễn Đời T kết hôn với nhau một cách tự nguyện vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước (Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2017 do Ủy ban nhân dân xã Đồng Tâm, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phướ ký cấp). Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, tuân thủ đầy đủ về điều kiện và thủ tục kết hôn được quy định tại các Điều 8 và 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong thời kỳ hôn nhân, bà Đặng Thị Mai T và ông Nguyễn Đời T không sống chung với nhau, nhưng trong cuộc sống giữa họ luôn phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân của việc phát sinh mâu thuẫn là do bà Đặng Thị Mai T và ông Nguyễn Đời T không tôn trọng, giúp đỡ lẫn nhau, thường hay cải vã, làm cho hai người không đến gần nhau được dẫn đến mâu thuẫn giữa hai người ngày càng gay gắt. Bà Đặng Thị Mai T xác định tình cảm mà bà Đặng Thị Mai T dành cho ông Nguyễn Đời T đã hết, ông Nguyễn Đời T cũng xác định giữa họ không còn tình cảm với nhau nên đồng ý ly hôn với bà Đặng Thị Mai T. Xét thấy, cuộc hôn nhân giữa bà Đặng Thị Mai T và ông Nguyễn Đời T lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Đặng Thị Mai T yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Đời T là có căn cứ và được chấp nhận.

Về con chung và tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan: Các bên đương sự không có yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Các bên phải nộp theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước nêu trên đối với Điều luật áp dụng và hướng giải quyết vụ án là có cơ sở, được ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 8, 9, 51 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

[1]Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Mai T được ly hôn với ông Nguyễn Đời T.

[2]Về con chung, tài sản chung và các vấn đề khác có liên quan: Không xem xét, giải quyết.

[3]Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Đặng Thị Mai T phải nộp 300.000đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Đặng Thị Mai T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0010695, quyển số 0214 ngày 23/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

[4]Bà Đặng Thị Mai T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Nguyễn Đời T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kề từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ