- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thi N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH! TỈNH!NAM!ĐỊNH! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/HSST Ngày: 06-3-2018 |
NHÂN!DANH
NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!NAM!ĐỊNH!TỈNH!NAM!ĐỊNH!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diện
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Cải
Bà Vương Thị Minh Tân
- Thư ký phiên toà:Bà Bùi Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2018/QĐXXST-HS ngày 22tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị N, sinh1967; nơi cư trú: số A đường Pa, phường H, thành phố N; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa: lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đức T (đã chết) và bà: Hồ Thị Kim T, sinh năm 1940; có chồng và 03con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 28-8-1998, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội “Chứa mại dâm, môi giới mại dâm”, đã được xóa án tích; bị bắt,tạm giữngày 24-11-2017, chuyển tạm giam ngày 30-11-2018;có mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị N, anh Phạm Xuân H (Tòa án không triệu tập tham gia phiên tòa; vắng mặt).
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ10 phút ngày 24-11-2017, tại khu vực đầu ngõ B đường P, phường H, thành phố N, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Nam Định kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Thị N, N tự giác lấy trong túi quần bên phải 16 gói nhỏ giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng nộp cho tổ công tác, N khai 16 gói đều là ma túy. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng,niêm phong ký hiệu M;đưa N cùng người làm chứng về trụ sởlập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.
Bản kết luận giám định số 926/GĐKTHS ngày 27-11-2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là chất ma túy, loại chất ma túy là Heroine, tổng khối lượng M = 0,663 (không phẩy sáu sáu ba) gam.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị N đã khai nhận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24-11-2017, N đi một mình đến khu vực ba tầng P, phường T, thành phố N mua của thanh niên không rõ lai lịch 16 gói Heroine với giá 800.000 (tám trăm nghìn) đồng mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, N đi bộ ra khu vực đầu ngõ 71 đường Phù Nghĩa, phường Hạ Long, thành phố Nam Định thì bị Công an bắt giữ và thu giữ, niêm phong toàn bộ số ma túy.
Bản cáo trạng số 59/CT-VKSTPNĐ ngày 07-02-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tạikhoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị N khai: Bị cáo không sử dụng chất ma túy. Ngày 24-11-2017, bị cáo đến khu vực ba tầng đường Phan Bội Châu, phường Trần Đăng Ninh, thành phố Nam Định mua của thanh niên (không rõ lai lịch) 16 gói ma túy với giá 800.000 (tám trăm nghìn) đồng mục đích để bán thu lời mỗi gói 20.000 đồng. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, bị cáo để số ma túy trong túi quần đi bộ ra khu vực đầu ngõ B đường P, phường H, thành phố N thì bị Công an bắt giữ và thu giữ, niêm phong toàn bộ số ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụngkhoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo từ 27 tháng đến 33 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; không áp dụng hình phạt bổ sung; áp dụng Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Nam Định, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận: Ngày 24-11-2017, bị cáo đã có hành vi mua trái phép chất ma túy,loại chất ma túy là Heroine, tổng khối lượng 0,663 (không phẩy sáu sáu ba) gamvới mục đích để bán kiếm lời. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy là chất do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vì mục đích tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999.
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội, góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy, là nguyên nhân dẫn tới nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có nhân thân xấu, có một lần bị kết án đã được xóa án tích. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứkhoản 1 Điều 194,điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 41 của Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 24-11-2017.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 926/GĐKTHS (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 09-02-2018).
3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận:! - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. Nam Định (02 bản); - Công an TP. Nam Định; ! - Chi cục THADS TP. Nam Định; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. ! ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!SƠ!THẨM! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! Nguyễn!Thị!Diện! |