- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Sồng P Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Giàng A Sồng P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA –––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/HS-ST Ngày 11 - 5 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tân Việt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đinh Thị Minh Thúy
Ông Đinh Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Nhẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2018/TLST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo: Giàng A Sồng P, sinh ngày 11 tháng 5 năm 1966 tại Phù Yên – Sơn La; nơi cư trú: Bản S C, xã K B, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Hmông; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Giàng A M (đã chết); con bà: Sồng Thị D(đã chết); có vợ là Sồng Thị D, bị cáo có 07, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07 tháng 02 năm 2018 đến nay; “có mặt”.
- Người tham gia tố tụng khác: Người phiên dịch: Ông Cầm Đình Cốc, nơi cư trú: Khối 12, thị trấn Phù Yên, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La; “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại khu vực xã Tân Hợp, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, bị cáo Giàng A Sồng P gặp và hỏi mua được 02 gói ma túy với giá 500.000đ của một người đàn ông dân tộc Hmông lạ mặt. Sau khi mua được ma túy, P cất giấu vào trong yên xe mô tô rồi đi về nhà ở bản S C, xã K B, huyện Phù Yên. Khi đến khu vực bản Vàng A, xã Đá Đỏ, huyện Phù Yên thì bị tổ công tác Công an huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang và xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A Sồng P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Giàng A Sồng P đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu gửi giám định xác định (Bút lục số 05): Gói chất bột mầu trắng thứ nhất thu giữ của P có khối lượng 0,51 gam, lấy 0,066 gam (ký hiệu P) để giám định. Gói chất bột mầu trắng thứ hai thu giữ của P có khối lượng 0,813 gam, lấy 0,084 gam (ký hiệu P2) để giám định. Tại bản kết luận giám định số 318 ngày 10 tháng 02 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận (Bút lục số 07):
Mẫu gửi giám định ký hiệu P, P2 là chất ma túy; loại chất Heroine; khối lượng mẫu gửi là P = 0,066gam, P2 = 0,084gam.
Tổng khối lượng chất ma túy thu giữ được là 1,323gam, loại chất Heroine.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả cân tịnh khối lượng và kết luận giám định của Cơ quan điều tra và Phòng kỹ thuật hình sự nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSPY ngày 12 tháng 4 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La đã truy tố Giàng A Sồng P về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Giàng A Sồng P từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng a,c khoản 1 Điều 47; các điểm a,c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu, tiêu hủy 1,209 gam Heroine vật chứng còn lại sau giám định.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu DETECH ESPERO STAR, BKS 26D1-171.30 của bị cáo Giàng A Sồng P.
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEL: 8632200211719026, kèm 01 sim đã qua sử dụng.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Giàng A Sồng P nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên.
Kết thúc tranh luận, bị cáo P trình bày lời nói sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phù Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Giàng A Sồng P khai nhận hành vi mua ma túy rồi vận chuyển về huyện Phù Yên nhằm mục đích để bán lại kiếm lời. Lời khai nhận của bị cáo P phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng (bút lục 01-03), kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của P tại cơ quan điều tra (bút lục 38-49) cũng như lời khai trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa đều thể hiện gói ma túy cơ quan công an thu giữ là của Giàng A Sồng P, mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời. Từ việc phân tích đánh giá các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Giàng A Sồng P đã có hành vi cất giấu, vận chuyển 02 gói Heroine nhằm để bán lại cho người khác.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”. Theo tiểu mục 3.3 mục 3 phần II của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp thì “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:
e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;
g) Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác….;
Như vậy, hành vi cất giấu, vận chuyển 02 gói Heroine nhằm để bán lại cho người khác của Giàng A Sồng P đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Khối lượng Heroine Giàng A Sồng P phải chịu trách nhiệm là 1,323gam.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi nhuận, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý phạm tội. Bị cáo có nhân thân tốt, là người dân tộc ít người, không biết chữ, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có nhiều hạn chế, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt trên, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn (Bút lục số 62). Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Đối với 1,209 gam Heroine (đựng trong phong bì đã niêm phong) vật chứng còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, vật không có giá trị. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử cần tịch thu tiêu hủy.
Đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEL: 8632200211719026, kèm 01 sim đã qua sử dụng của bị cáo, xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu DETECH ESPERO STAR, BKS 26D1-171.30, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với người đàn ông dân tộc Hmông đã bán ma túy cho bị cáo P, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ ở đâu, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với.
Do đến ngày xét xử, thời hạn tạm giam đối với bị cáo Giàng A Sồng P đã hết nên Hội đồng xét xử cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
Về án phí, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Căn cứ các điểm a, c khoản 1Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1] Tuyên bố: Bị cáo Giàng A Sồng P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Giàng A Sồng P 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 02 năm 2018 (ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ).
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
[2] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy 1,209 gam Heroine (đựng trong phong bì đã niêm phong) vật chứng còn lại sau giám định.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu DETECH ESPERO STAR, BKS 26D1-171.30 của bị cáo Giàng A Sồng P.
Trả lại bị cáo Giàng A Sồng P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEL: 8632200211719026, kèm 01 sim đã qua sử dụng. (theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 26/BB- GNVC ngày 12 tháng 4 năm 2018 giữa cơ quan Công an huyện Phù Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Yên).
[3] Về án phí: Bị cáo Giàng A Sồng P phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (11/5/2018).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại (nếu có); - VKSND huyện Phù Yên; Giao - Người bào chữa (nếu có); - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Cơ quan điều tra- CA huyện ; - CQ Thi hành án hình sự; Gửi - Trại TG (nhà tạm giam); - Sở tư pháp tỉnh; - Người có QL,NVLQ (nếu có); - Chi cục THADS huyện (án có hiệu lực); - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Tân Việt |