vanban.org

Bản án 35/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 12/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 19 (Mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 20/3/2018. Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 50/2018/GĐMT bên trong có chứa 0,3326 gam chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại hê rô in và vỏ bao gói… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Huyện K - Tỉnh Ninh Bình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2018/HSST
Ngày: 12/7/2018
---------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Mạnh.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Vũ Đức Bính.

2. Ông: Vũ Xuân Dự.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Ninh, Thư ký Toà án nhân dân huyện K - tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện K -Tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Ninh Trọng Khánh, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, Tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2018/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2018/QĐXXST-HS ngày 28/6/2018 đối với bị cáo :

Họ và tên: Phạm Văn H, sinh năm 1984;

Nơi ĐKHKTT, chỗ ở: xóm 15, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T (đã chết) và bà Đỗ Thị H1; có vợ là Vũ Thị H2 và 02 con; tiền án, tiền sự : không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/3/2018 chuyển tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 21/3/2018( có mặt ).

*Người làm chứng: anh Đinh Văn D và anh Nguyễn Văn K( đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Phạm Văn H là người sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017. Khoảng 16 giờ 20 phút ngày 20/3/2018, H điều khiển xe mô tô đến khu vực nghĩa địa gần bờ đê sông Vạc thuộc xã T tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây H gặp người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi và mua được của người này một gói ma túy được gói ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ với giá 200.000đ. Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe về đến khu vực đường đê sông Vạc, gần cây xăng thuộc phố T, huyện K, thấy vắng người nên dừng xe định mở gói ma túy ra xem thì bị tổ công tác Công an huyện K và công an thị trấn P kiểm tra hành chính, phát hiện H đang cầm trên tay trái 01 gói nhỏ, H khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy, gói nhỏ đang cầm là hê rô in vừa mua được đang trên đường mang về để sử dụng. Tổ công tác công an huyện K tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong gói nhỏ và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu giữ của bị cáo 01 xe mô tô. Kiểm tra bên trong gói nhỏ thu giữ của của bị cáo là chất bột dạng cục màu trắng, cân xác định trọng lượng được 0,41 gam ký hiệu M gửi toàn bộ đi giám định.

Bản kết luận giám định số 50/KLGĐ-PC54-MT ngày 21/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi tới giám định ký hiệu M có khối lượng 0,4185 gam gửi giám định là ma túy, loại hê rô in.

Bản cáo trạng số 35/CT-VKS ngày 18/6/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện K đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát huyện K vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng nêu trên và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 18 đến 21 tháng tù.

Áp dụng các quy định của pháp luật để xử lý vật chứng đã thu giữ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay bị cáo Phạm Văn H hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Bị cáo khai nhận bản thân sử dụng ma tuý từ cuối năm 2017 bằng hình thức hít hê rô in. Chiều ngày 20/3/2018 sẵn có 200.000đ trong người và lại muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã mượn xe mô tô của người bạn của một người tên D ở làng K, xã K mà bị cáo mới quen, sau đó dùng xe mô tô đi đến khu vực nghĩa địa xã T tìm mua ma túy, tại đây bị cáo gặp một người đàn ông không quen biết khoảng hơn 30 tuổi, đoán là người nghiện ma túy nên đã hỏi và mua được của người đó gói hêrôin với giá 200.000đ. Mua được hêrôin, bị cáo điều khiển xe theo đường cũ về nhà để sử dụng, khi tới đoạn đường đê sông Vạc, gần cây xăng K bị cáo dừng xe định mở gói me túy ra xem thì bị công an kiểm tra hành chính phát hiện bị cáo đang cầm gói ma túy trên tay trái, bị cáo đã tự giác giao nộp gói hê rô in cho cơ quan Công an và khai nhận đó là gói hê rô in bị cáo vừa mua nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng, biên bản cân xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định, kết luận giám định gói bột thu giữ của bị cáo.

Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận với hành vi cất giấu trong người 0,4185 gam Hêrôin nhằm mục đích sử dụng, bị cáo Phạm Văn H đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và biết rõ nhà nước có những quy định xử lý nghiêm khắc đối với những người có hành vi liên quan đến ma túy nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi đi mua hêrôin tàng trữ để sử dụng cho bản thân, vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo trước pháp luật, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, đã tự giác giao nộp gói hê rô in cho cơ quan Công an; quá trình giải quyết vụ án bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Về nguồn gốc Hêrôin: Bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng hơn 30 tuổi ở khu vực nghĩa địa xã T, bị cáo không quen biết người đó, có gặp lại cũng không nhận dạng được vì vậy cơ quan điều tra Công an huyện K không đủ cơ sở để điều tra.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan Công an huyện K đã thu giữ chiếc xe mô tô BKS 29L6- 7024 là xe bị cáo dùng làm phương tiện đi mua hê rô in nhưng chiếc xe đó là xe do bị cáo mượn của một người không biết tên là bạn với người đàn ông tên D ở xóm 5, xã K mà bị cáo mới quen. Quá trình xác minh không xác định được tên tuổi địa chỉ của người đã cho bị cáo mượn xe và người thanh niên tên D. Kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tôBKS 29L6- 7024 đăng ký lần đầu chủ xe là Lê Văn T, địa chỉ : tổ 70, H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội, cơ quan điều tra công an huyện K đã ủy thác điều tra cho cơ quan điều tra công an quận H, thành phố Hà Nội nhưng chưa có kết quả vì vậy đã tách tài liệu liên quan đến chiếc xe mô tô trên để xác minh, xử lý sau.

Số vật chứng còn lại là 01 phong bì niêm phong ghi số 50/2018/GĐMT bên trong có chứa 0,3326 gam chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại hê rô in và vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì có chữ ký giáp lai của bên giao, bên nhận và đóng dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình cùng 01 phong bì niêm phong bên trong có vỏ gói nhỏ là giấy màu trắng có dòng kẻ và vỏ phong bì niêm phong khi thu giữ vật chứng của bị cáo, đây là vật không còn giá trị sử dụng, vật nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi tố tụng hoàn toàn hợp pháp theo đúng quy định của pháp luật.

Vì lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 19 (Mười chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 20/3/2018.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015; Căn cứ điểm a,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 50/2018/GĐMT bên trong có chứa 0,3326 gam chất bột màu trắng trong mẫu ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại hê rô in và vỏ bao gói trong gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong phong bì có chữ ký giáp lai của bên giao, bên nhận và đóng dấu giáp lai của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình cùng 01 phong bì niêm phong bên trong có vỏ gói nhỏ là giấy màu trắng có dòng kẻ và vỏ phong bì niêm phong khi thu giữ vật chứng của bị cáo.

Căn cứ Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, buộc bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ