- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? của Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 35/2018/HS-ST |
N g à y : 1 1 - 9 - 2 0 1 8
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Đẹp và ông Nguyễn Thanh Tuấn - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mãi - Kiểm sát viên. Ngày 11 tháng 9 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2018/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh năm 1994 tại tỉnh Đồng Tháp Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh Đồng Tháp Chỗ ở: Phòng số E, nhà trọ V, Khóm B, Phường P, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12 Dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh 1956 và bà Nguyễn Thị T2, sinh 1963 Chồng: Không có Con: có 01 người tên Nguyễn Thành Q, sinh ngày 11/4/2016 Tiền án, tiền sự: Không Tạm giữ, tạm giam: Không Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa. - Người làm chứng:
+ Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1963 (có mặt) Nơi cư trú: Tổ A, ấp H, xã K, huyện C, tỉnh Đồng Tháp + Anh Bùi Quốc V1, sinh năm 1973 (vắng mặt) Nơi cư trú: Số M, Khóm B, Phường P, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Thị T là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/7/2018, T điện thoại gặp một thanh niên tên là P1 (không rõ họ tên, địa chỉ) ở thành phố Hồ Chí Minh đặt mua ma túy với số tiền 1.100.000 đồng thì được P1 đồng ý. Do T mua ma túy với số lượng ít nên P1 kêu T đến thành phố G, tỉnh Tiền Giang sẽ có người của P1 đến gặp T giao nhận ma túy. Khoảng 17 giờ cùng ngày,T đón xe khách đến thành phố G, tỉnh Tiền Giang rồi đi vào một quán nước giải khát (không xác định được địa chỉ) để chờ giao dịch mua bán ma túy thì gặp 02 người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) được P1 kêu đến gặp T. Sau khi thỏa thuận xong, T lên xe mô tô của 02 thanh niên, cả 03 chở nhau chạy đến 01đoạn đường vắng thì dừng xe lại, T bước xuống xe đưa cho 02 người thanh niên số tiền 1.100.000 đồng rồi đi đến một cái Miếu lấy 01 bịch nylon màu đen, bên trong có 02 bịch ma túy, 03 bịch phụ phẩm màu trắng dùng để pha trộn thêm vào ma túy và 01 cây cân điện tử, sau đó đem về phòng trọ số E, nhà trọ V, tọa lạc tại Khóm B, Phường P, thành phố S cất giấu. Khoảng 17 giờ ngày 24/7/2018, T dùng dụng cụ phân chia số ma túy mua được thành 07 bịch ma túy nhỏ rồi cất giấu trên nắp của bồn vệ sinh. Đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày, Công an thành phố Sa Đéc kiểm tra phòng số E, nhà trọ V bắt quả tang thu giữ tài sản, đồ vật gồm: + 07 bịch nylon được hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; + 01 nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy để trên nắp của bồn vệ sinh; + 03 bịch nylon màu trắng bên trong có 01 bịch có nắp kẹp một đầu chứa chất tinh thể màu trắng; + 01 cây cân điện tử; + 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng dùng để phân chia ma túy; + 04 bịch nylon màu trắng có nắp kẹp phía trên chưa qua sử dụng được bỏ trong hộp giấy carton màu nâu để trên thùng sữa hiệu Vinamilk; + 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu hồng, bên trong có lắp sim số điện thoại 0939090433. Tại kết luận giám định số 523/KL-KTHS ngày 27/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp, kết luận:
+ Tinh thể rắn chứa trong 01 bịch nylon có nắp kẹp một đầu và 06 bịch nylon hàn kín (ký hiện mẫu M1) được niêm phong trong phong bì nêu trên gửi giám định đều là chất ma túy, có tổng khối lượng 3,0574 gam, loại Methamphetamine. + Tinh thể rắn (dạng tinh thể nhỏ và mịn) chứa trong 02 bịch nylon hàn kín và tinh thể rắn (dạng tinh thể lớn) chứa trong 01 bịch nylon hàn kín (ký hiệu mẫu M2) được niêm phong trong cùng phong bì nêu trên gửi giám định đều không phát hiện thành phần các chất ma túy và tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thường gặp, tổng khối lượng 8,2407 gam. Quá trình điều tra bị cáo T khai nhận mua ma túy về phân chia ra với mục đích để sử dụng. Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSND-TP.SĐ ngày 28/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị: - Về hình phạt chính: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. - Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị T. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và các vấn đề khác theo quy định pháp luật. Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt. Người làm chứng không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang được lập lúc 18 giờ 10 phút ngày 24/7/2018 của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an thành phố Sa Đéc, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được, phù hợp với kết luận giám định số 523/KL-KTHS ngày 27/7/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 18 giờ 10 phút ngày 24/7/2018, tại phòng số E, nhà trọ V, Khóm B, Phường P, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, Công an thành phố Sa Đéc kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thị T có hành vi tàng
trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine có tổng khối lượng 3,0574 gam nhằm mục đích sử dụng. Theo Danh mục II ban hành kèm Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ thì Methamphetamine là một trong những chất ma túy, chất hướng thần độc hại, bị cấm sử dụng trái phép, … các chất này chỉ được sử dụng trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm, trong lĩnh vực y tế và phải theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền. Bị cáo là người đã thành niên nên có đầy đủ năng lực hành vi và là người nghiện ma túy nên nhận thức được rằng ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần,… là chất độc hại. Nhà nước nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng trái phép …, vì ma túy sẽ làm ảnh hưởng đến tinh thần, sức khỏe, ý chí phấn đấu của người sử dụng. Thế nhưng, do tư tưởng xấu, không biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, bị cáo đã có hành vi đi đến thành phố G, tỉnh Tiền Giang để mua ma túy đem về phòng trọ để sử dụng, khoảng 18 giờ 10 phút ngày 24/7/2018, Công an thành phố Sa Đéc kiểm tra phòng số E nhà trọ V thì bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ ma túy. Vật chứng bị thu giữ là Methamphetamine có tổng khối lượng là 3,0574 gam. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Hành vi đó là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác như: trộm cắp, cướp giật, … góp phần làm gia tăng tệ nạn nghiện ngập ma túy trong xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích phạm tội là để tư lợi cá nhân, nhằm thỏa mãn cơn nghiện. Bị cáo là phụ nữ đã có con. Thế nhưng bị cáo không biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, cố gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản thân, phụ giúp gia đình, làm tấm gương tốt để con cái noi theo. Với bản tính ham chơi, lối sống thích hưởng thụ, chỉ biết sống cho bản thân, bị cáo đã sử dụng ma túy và trở thành đối tượng nghiện, nên bị cáo đã có hành vi đi đến thành phố G, tỉnh Tiền Giang mua ma túy đem về phòng trọ ở thành phố S cất giấu để sử dụng, khi Công an thành phố Sa Đéc tiến hành kiểm tra phòng trọ thì bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ ma túy là chất Methamphetamine có tổng khối lượng là 3,0574 gam. [2] Từ những phân tích trên cho thấy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) ……….
c) … Methamphetamine, .. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; d) ………” [3] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, tu dưỡng bản thân, có ý thức chấp hành pháp luật, nhằm răn đe và phòng ngừa chung. [4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [5] Về tình tiết tăng nặng: Không. [6] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, vì vậy cần áp dụng Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đối với bị cáo. [7] Về trách nhiệm dân sự: Không. [8] Về xử lý vật chứng: - Đối với 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 cây cân điện tử; 01 nỏ thủy tinh; 01 hộp giấy carton màu nâu và 04 bịch nylon màu trắng có nắp kẹp phía trên là công cụ dùng vào việc phạm tội; Tinh thể rắn còn lại sau giám định trong phong bì được niêm phong ghi số 523 ngày 27/7/2018, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và chữ ký ghi họ tên của Trần Thị Ý Nhi, Bùi Văn Duẩn và Nguyễn Thành Phương cần tịch thu tiêu hủy; - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu hồng bên trong có lắp sim số điện thoại 0939090433 của bị cáo T cần tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án. (Hiện vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý). [9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị T mức án 01 năm 08 tháng tù (Một năm tám tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điểm a, c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: - 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; - 01 cây cân điện tử; 01 nỏ thủy tinh; 01 hộp giấy carton màu nâu; - 04 bịch nylon màu trắng có nắp kẹp phía trên. Là công cụ sử dụng vào việc phạm tội. - Tinh thể rắn còn lại sau giám định trong một phong bì được niêm phong ghi số 523 ngày 27/7/2018, có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp và chữ ký ghi họ tên của Trần Thị Ý Nhi, Bùi Văn Duẩn và Nguyễn Thành Phương. Tiếp tục quản lý: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu hồng, bên trong có lắp sim số điện thoại 0939090433. (Hiện các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2018). Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016 Bị cáo Nguyễn Thị T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VKSND TP Sa Đéc; (2b) - Công an TP Sa Đéc; (4b) - Chi cục THA TP Sa Đéc; (1b) - Sở Tư pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những người tham gia tố tụng; (1b) - Lưu VT, TP; (2b) - Lưu hồ sơ. Nguyễn Bé Mười | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |