- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Tuấn A - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đà o Tuấ n A phạm tội “Lừ a đả o chiế m đoạ t tà i sả n”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2018/HS-ST Ngày 21-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễ n Thá i Hà .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Bùi Nguyên Thoại.
Ông: Phạm Huy Cảm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nhâm Đì nh Mạ nh -Thư ký tòa án nhân dân thành phố Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên
tòa: Bà Đinh Thị Thúy Vân- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2018, tại hộ i trườ ng xé t xử số 1 trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2018/QĐXXST-HS ngày 7 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Đà o Tuấ n A, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1980, tại thành phố L, tỉnh Lào Cai. ĐKHKTT: Tổ 5, thị trấn S , huyệ n S, tỉnh Lào Cai và chỗ ở : Tổ 12, phườ ng B, thành phố L , tỉnh Lào Cai ; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Đà o Văn Th, sinh năm 1952 và bà Nguyễ n Thị Tuyế t Nh , sinh năm 1958; bị cáo có vợ là Nguyễ n Thị Thu H , sinh năm 1988 và có 01 con sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 40/2013/HSST ngà y 18 tháng 11 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyện Bát Xát , tỉnh Lào Cai tuyên phạ t Đà o Tuấ n A 9 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” . Bị cáo bị cáo bị bắt tạm giam từ ngà y 25 tháng 01 năm 2018, hiệ n đang bị tạ m giam tại Công an thành phố Lào Cai. Có mặt.
Ngườ i bị hạ i: Anh Phạm Sơn T, sinh năm 1989.
Đị a chỉ : Số nhà 432, đườ ng H, phườ ng K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có
mặ t.
Ngườ i là m chứ ng:
Ông: Phạm Ngọc H, sinh năm 1960.
Đị a chỉ: Tổ 12, phườ ng N, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.
Anh: Đà o Tuấ n Th, sinh năm 1976.
Đị a chỉ: Tổ 12, phườ ng B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắ ng mặ t.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8 năm 2017, trong quá trình xây dựng công trình nhà nghỉ cho bà Nguyễn Thị Tuyết Nh, trú tại tổ 12, phường B, thành phố L, Đào Tuấn A có quen biết với anh Phạm Sơn T là thợ ốp kính và cầu thang cho công trình. Đến khoảng11 giờ ngày 01 tháng8 năm 2017, anh T đến công trình thì gặp Đào Tuấn A. Tại đây, qua trao đổi, anh T được biết Đào Tuấn A có ý định làm phần sắt cho công trình nên anh T nói với Đào Tuấn A là có đồ làm và nếu Đào Tuấn A cần, T sẽ cho mượn. Do nghiện chất ma túy và muốn có tiền để tiêu xài nên Đào Tuấn A liền nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh T. Đến khoảng19 giờ ngày02 tháng8 năm 2017, Đào Tuấn A bảo với Đào Tuấn Th: “Chở em ra đây một tý”. Th lấy xe máy nhãn hiệu HONDA LEAD BKS 24P5 - 2466 chở Tuấn A từ nhà tại tổ 12, phường B, thành phố L đến xưởng của anh T tại tổ 12, phường N, thành phố L. Khi đến nơi, Đào Tuấn A một mình đi vào xưởng gặp anh T hỏi mượn máy cắt sắt, giàn giáo và nói để về tự làm phần sắt cho công trình gia đình. Tin lời Đào Tuấn A, anh T đồng ý cho mượn 02 bộ giàn giáo và 01 máy cắt sắt. Sau khi anh T và Đào Tuấn A bê 02 bộ giàn giáo từ trong xưởng ra ngoài cổng cho Th trông giữ, anh T và Đào Tuấn A tiếp tục lên văn phòng đại diện của anh T tại tổ 04, phường K, thành phố L để lấy máy cắt sắt. Sau khi lấy được máy cắt sắt, Đà o Tuấn A quay lại đón Th và chở toàn bộ tài sản trên về nhà tại tổ 12, phường B, thành phố L cất giữ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Đào Tuấn A nhờ Th chở Đào Tuấn A và 02 bộ giàn giáo máy cắt sắt vừa mượn được đến lán của anh Nguyễn Văn C (Sinh năm 1988; Nơi cư trú: Khu 4, xã M, huyệ n H tỉnh Phú Thọ). Đế n nơi, Đà o Tuấ n Th đứ ng ở ngoà i, còn Đà o Tuấ n A bê toà n bộ tài sản và bán cho anh C 02 bộ giàn giáo giá 300.000 đồng và 01 máy cắt sắt giá 1.000.000 đồng.
Khoảng 19 giờ ngày03 tháng 8 năm 2017, Đào Tuấn A tiếp tục nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh T nên bảo Th lấy xe máy nhãn hiệu HONDA LEAD BKS 24P5 - 2466 chở từ nhà tại tổ 12, phường B, thành phố L đến xưởng của anh T tại tổ 12, phường N, thành phố L để mượn đồ. Khi đến nơi, không thấy anh T ở xưởng mà chỉ gặp ông Phạm Ngọc H là bố đẻ của T. Đào Tuấn A nói với ông H là đã gọi điện trao đổi với anh T và anh T nhất trí cho mượn thêm 01 máy khoan, 01 máy khoan đục và 01 máy hàn sắt, inox, ông H tin tưởng nên đồng ý. Trên đường đi vào phía trong xưởng, Đào Tuấn A chỉ và bảo Th bê máy hàn sắt, inox ra ngoài xe để và tiếp tục đi vào trong xưởng cùng ông H để tìm máy khoan và máy khoan đục. Đào Tuấn A và Th chở toàn bộ số máy móc vừa mượn được đến nhà nghỉ Ph, tổ 16, phường B, thành phố L để nghỉ. Đến khoảng 09 giờ ngày 04 tháng 8 năm 2017, Đào Tuấn A nhờ Th chở toàn bộ máy móc đã mượn của anh T ngày 03 tháng 8 năm 2017 đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai. Tại đây, Đào Tuấn A bảo Th đứng đợi ở đường, còn Đào Tuấn A vào quán nước ven đường bán 01 chiếc máy khoan cho anh Lương Đình Q (Sinh năm 1986; Nơi cư trú : Tổ 9, phườ ng B, thành phố L, tỉnh Lào Cai được 400.000 đồng. Sau khi bán xong, Đào Tuấn A và Th quay lại nhà nghỉ Ph. Đến buổi trưa ngày04 tháng 8 năm 2017, Đào Tuấn A một mình cầm máy hàn sắt inox đến bán cho chị Kim Thị M (Sinh năm 1983; Nơi cư trú : Tổ 13, phườ ng N, thành phố L, tỉnh Lào Cai) được 1.300.000 đồng và máy khoan đục đến bán cho anh Nguyễn Văn C (Sinh năm1988; Nơi cư trú: Khu 4, xã M, huyệ n H, tỉnh Phú Thọ) được 300.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 23 tháng 9 năm 2017 và ngày 31 tháng 01 năm 2018 của hộ i đồ ng đị nh giá tà i sả n thà nh phố Lào Cai kết luận: 01 (Mộ t) chiế c má y cắ t nhã n hiệ u SKILL, màu sơn đỏ, trị giá 2.450.000 đồ ng (Hai triệ u bố n trăm năm mươi nghì n đồ n g); 01 (Mộ t) máy khoan bê tông (Loại khoan đụ c) nhãn hiệ u DAWER, trị giá 1.260.000 đồ ng (Mộ t triệ u hai trăm sá u mươi nghì n đồ ng ); 01 (Mộ t) máy hàn sắt và Inox , màu đỏ nhãn hiệu DC INVERTER TIG WELDE - LEGL, trị giá 3.150.000 đồ ng (Ba triệ u mộ t trăm năm mươi nghì n đồ ng); 02 (Hai) bộ già n giá o xây dự ng bằ ng sắ t , trong đó 01 (Mộ t) bộ màu đỏ, 01 (Mộ t) bộ mà u vàng, trị giá 480.000 đồ ng (Bố n trăm tá m mươi nghì n đồ ng ); 01 (Mộ t) chiế c má y khoan, màu xanh, nhãn hiệu BOSCH , trị giá 2.660.000 đồ ng (Hai triệ u sá u trăm sáu mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản là 10.000. 000 đồ ng (Mườ i triệ u đồ ng).
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngà y 21 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai , truy tố đố i vớ i Đà o Tuấ n A về tộ i “Lừ a đả o chiế m đoạ t tà i sả n’ theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 139 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đà o Tuấ n A phạm tội “Lừ a đả o chiế m đoạ t tà i sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 139; điểm g, p khoả n 1 và khoản 2 Điề u 46; điể m g khoản 1 Điề u 48 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Đà o Tuấ n A mức án từ 9 tháng đến 12 tháng tù. Không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung theo khoả n 5 Điề u 139 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999. Áp dụng điể m b khoả n 1 Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999; điể m b khoả n 2 Điề u 106 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2015. Truy thu đối vớ i bị cá o Đà o Tuấ n A số tiề n 3.300.000 đồ ng sung quỹ Nhà nướ c.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, ngườ i bị hai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đà o Tuấ n A tại cơ quan điề u tra và tạ i phiên tòa phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bị cáo tại cơ qu an điề u tra , biên bả n thu giữ vậ t chứ ng, lờ i khai ngườ i bị hạ i, bản kết luận định giá tài sản ngày 23 tháng 9 năm 2017 và ngày 31 tháng 01 năm 2018 của Hộ i đồ ng đị nh giá tà i sả n thà nh phố Là o Cai , các tài liệ u khá c có trong hồ sơ vụ á n đượ c thẩ m tra tạ i phiên tò a. Như vậ y, có căn cứ xác đị nh ngày 02 tháng 8 năm 2017, bị cáo Đà o Tuấ n A bằ ng thủ đoạ n gian dố i giả mượ n tà i sả n của anh Phạm Sơn T làm anh Phạm Sơn T tin giao tà i sản cho bị cáo rồ i bị cáo chiếm đoạt tài sản trị giá 01 chiế c má y cắ t sắ t nhãn hiệu SKILL, trị giá 2.450.000 đồ ng; 02 bộ giàn giáo xây dựng bằng sắt, trị giá 480.000 đồ ng, cũng thủ đoạ n như trên ngà y 03 tháng 8 năm 2017, bị cáo Đào Tuấn A chiế m đoạ t củ a anh Phạm Sơn T gồ m: 01 máy khoan bê tô ng nhãn hiệu DAWER , trị giá 1.260.000 đồ ng; 01 (Mộ t) máy hàn sắt và Inox , nhãn hiệu DC INVERTER TIG WELDE - LEGL, trị giá 3.150.000 đồ ng; 01 chiế c má y khoan , nhãn hiệu BOSCH , trị giá 2.660.000 đồ ng. Tổ ng trị giá tà i sả n là 10.000. 000 đồ ng. Hành vi của bị cáo Đà o Tuấ n A đã xâm phạ m đế n quyề n sở hữ u tà i sả n củ a ngườ i khá c đượ c phá p luậ t bảo vệ. Hộ i đồ ng xé t xử kế t luậ n bị cáo Đà o Tuấ n A phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạ t tà i sả n” theo quy đị nh tạ i khoả n 1 Điề u 139 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đào Tuấn A đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, do đó bị cá o phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tạ i điể m g khoả n 1 Điề u 48 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.
Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo: Hội đồng xét xử nhậ n
đị nh, tại bản án số 40/2013/HSST ngà y 18 tháng 11 năm 2013 của Tòa án nhân dân huyệ n Bá t Xá t , tỉnh Lào Cai tuyên phạ t Đà o Tuấ n A 9 tháng tù về tội “Lạ m dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, điều đó cho thấy bị cáo có nhân thân xấ u. Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, gây thiệ t hạ i không lớ n , ngườ i bị hại có đơn xin giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự cho bị cá o . Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y bị cáo tuổ i trẻ nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân , không chị u lao độ ng bằ ng chính sức lao động của bản thân mà lừ a đả o chiế m đoạ t tài sản của người khác để tiêu xà i và sử dụ ng chấ t ma tú y, điề u đó cho thấ y ý thứ c không tôn trọ ng phá p luậ t và tài sản của người khác , nên cầ n xé t xử mứ c á n phù hợ p tương xứ ng tí nh chấ t mứ c độ hành vi phạm tộ i củ a bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời s ống xã hội một thờ i gian nhấ t đị nh để giá o dụ c, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho gia đình và xã hội. Xét thấy bản thân bị cáo không nghề nghiệp, tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạ t tiền đối với bị cáo.
Về vậ t chứ ng và trách nh iệ m dân sự : 01 (Mộ t) máy cắt sắt nhãn hiệu SKILL màu sơn đỏ, 01 (Mộ t) máy khoan bê tông nhãn hiệu DAWER màu vàng, 01 (Mộ t) máy hàn sắt và inox nhãn hiệu DC INVERTER TIG WELDE - LEGI màu đỏ, 02 bộ giàn giáo xây dựng bằng sắt, 01(Mộ t) chiếc máy khoan nhãn hiệu BOSCH. Ngày 22 tháng 02 năm 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã trả cho chủ sở hữu là anh Phạm Sơn T. Anh Phạm Sơn T đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu Đào Tuấn A phải bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Đối với anh Lương Đình Q, anh Nguyễn Văn C và chị Kim Thị M là những người mua tài sản do Đào Tuấn A phạm tội mà có. Quá trình điều tra xác định các anh chị không biết nguồn gốc những tài sản là do phạm tội mà có, cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp. Anh Nguyễ n Văn C đã dù ng số tiề n 1.600.000 đồ ng (Mộ t triệ u sá u trăm nghì n đồ ng), anh Lương Văn Q đã dù ng số tiề n400.000 đồ ng (Bố n trăm nghìn đồng), chị Kim Thị M đã dù ng số tiề n 1.300.000 đồ ng (Mộ t triệ u ba trăm nghìn đồng) mua tà i sả n, các anh, chị không yêu cầ u bị cá o bồ i thườ ng, nên không đề cậ p giả i quyế t. Tuy nhiên xá c đị nh đây là tiề n do bị cá o phạ m tộ i mà có, cầ n truy thu số tiề n 3.300.000 đồ ng (Ba triệ u ba trăm nghì n đồ ng) đối với bị cáo Đào Tuấn A để sung quỹ Nhà nướ c theo quy đị nh phá p luâ. ̣ t
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA LEAD BKS 24P5 - 2466. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu của anh Phan Mạnh L (Sinh năm 1981; Nơi cư trú: Tổ 6, thị trấ n B, huyệ n B, tỉnh Lào Cai) cho bị cáo Đào Tuấn A mượ n. Đà o Tuấ n A sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, anh L không biết và không tham gia cùng. Do vậy, cơ quan điều tra đã trả cho anh Phan Mạnh L là phù hợp.
Trong vụ á n cò n có đố i tượ ng Đà o Tuấ n Th: Quá trình điều tra xác định, Đà o Tuấ n Th chỉ nghe bị cáo Đào Tuấn A nói “Chở em ra đây một tý”, việc Đào Tuấn A thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của anh Phạm Sơn T, Đà o Tuấ n Th không biết mục đích chiếm đoạt tài sản từ trước của Đà o Tuấn A, Đà o Tuấ n Th không được Đào Tuấn A bàn bạc, trao đổi gì trong quá trình thực hiện về việ c thỏa thuận mượ n tà i sả n, mua bá n tà i sản chiếm đoạt. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu số tiề n là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đà o Tuấ n A phạm tội “Lừ a đả o chiế m đoạ t tà i sả n”.
Căn cứ khoản 1 Điều 139; điểm g, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; điể m g khoản 1 Điề u 48 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Đà o Tuấ n A 01 (Mộ t) năm tù. Thời gian chấp hành án tính từ ngày bắt tạm giam ngày 25 tháng 01 năm 2018.
Căn cứ điể m b khoả n 1 Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999; điể m b khoả n 2 Điề u 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Truy thu đối với bị cáo Đào Tuấn A số tiề n 3.300.000 đồ ng (Ba triệ u ba trăm nghì n đồ ng) sung quỹ Nhà nướ c.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đà o Tuấ n A phải chịu số tiền là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong tr êng hîp b¶n ¸n ® îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù, th× ng êi ® îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c ìng chÕ thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6, 7, 7a vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù: thêi hiÖu thi hµnh ¸n ® îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.
Bị cáo, ngườ i bị hạ i được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:
| - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, TP; - CATP; - Bị cáo; - Ngườ i bị hạ i; - Chi cục THATP; - Sở tư phá p; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thái Hà |