vanban.org

Bản án 35/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N được ly hôn với bà Nèng Pho L.

2/ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2012 cho ông Nguyễn Văn N tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Nèng Pho L không phải cấp dưỡng nuôi con. Bà Nèng Pho L được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N được ly hôn với bà Nèng Pho L.
  • Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:35/2018/HNGĐ-ST
Ngày:28/9/2018
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Lâm Thị Tám;

Bà Lý Thị Đào;

Thư ký phiên toà: Bà Võ Anh Thảo, Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên tòa: Đoàn Văn Khải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2018/TLST-HNGĐ ngày 23/5/2018 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2018/QĐXX-ST ngày 10 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1982. ( Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã A huyện T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Bà Nèng Pho L, sinh năm 1993 ( Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 14 tháng 5 năm 2018, các chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên toà ngày hôm nay nguyên đơn Nguyễn Văn N trình bày:

Ông và bà Nèng Pho L cưới nhau vào ngày 24/3/2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh An Giang. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Từ tháng 03 năm 2015 thì bà Nèng Pho L bỏ về nhà cha mẹ ruột tại ấp Đ, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng sống và ly thân từ đó cho cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nèng Pho L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống ông bà có một người con chung tên Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 31/3/2012 hiện nay đang sống chung với ông N, ông N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà Nèng Pho L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn bà Nèng Pho L: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho bà Pho L nhưng bà Pho L không có ý kiến gửi cho Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Tại phiên tòa hôm nay kiểm sát viên trình bày: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt bị đơn bà Nèng Pho L. Xét thấy, bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đối với Nèng Pho La.

Về nội dung:

Ông Nguyễn Văn N và bà Nèng Pho L kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện T, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn ông N và bà L chung sống hạnh phúc được bốn năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, ông N và bà L sống ly thân từ tháng 03/2015 cho đến nay, ông N thấy rằng cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn với bà L.

Về hôn nhân:

Xét thấy, ông Nguyễn Văn N và bà Nèng Pho L kết hôn năm 2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện T, tỉnh An Giang là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Trong thời gian chung sống giữa ông No và bà L có nhiều mâu thuẫn. Xét thấy, sau khi kết hôn ông N và bà L chung sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân không thể kéo dài và tại phiên Tòa hôm nay ông Nguyễn Văn N cương quyết xin ly hôn với bà L nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn N, ông được ly hôn với bà Nèng Pho L.

Về con chung: Trong thời gian chung sống ông N và bà L có một người con chung tên Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 31/3/2012 hiện đang sống với ông N. Ông N yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu Nguyễn Thị Kim T đang ở với ông N để ổn định cuộc sống cho cháu T Hội đồng xét xử quyết định giao cho ông N tiếp tục được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 31/3/2012 đến tuổi trường thành. Về cấp dưỡng nuôi con ông Nguyễn Văn N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ông Nguyễn Văn N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định là 300.000 đồng.

Lời đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1,3 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khỏan 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 3 Điều 81; Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1/ Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn N được ly hôn với bà Nèng Pho L.

2/ Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2012 cho ông Nguyễn Văn N tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Bà Nèng Pho L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Nèng Pho L được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

4/ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002476 ngày 14/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, ông N đã nộp xong.

6/ Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm đối với người vắng mặt thì thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.

7/ Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Cỡ chữ