- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thành T phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng - phạm tội chế tao, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Nghị quyết số 109/2015/QH13 Về việc thi hành Bộ Luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 35/2017/HSST Ngày: 20/6/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
*Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành, ông Dương Mạnh Hà.
* Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Việt - Cán bộ Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Lệ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2017, tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường H, thị xã C, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 38/2017/HSST ngày 02/6/2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Thành T, sinh năm 1986
Nơi ĐKHKTT: Khu dân cư Đ, phường H, thị xã C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Bùi Văn T (ông T được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba), con bà Nguyễn Thị L; có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/4/2017, đến ngày 23/4/2017, được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện bị cáo tại ngoại, có mặt.
NHẬN THẤY :
Bị cáo Bùi Thành T bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng cuối năm 2016, Bùi Thành T nhặt được 01 khẩu súng bằng kim loại, màu sáng trắng, kiểu ổ côn quay, tay cầm bằng gỗ màu vàng, súng không có đạn ở trong rừng thuộc vực mỏ than Đ, huyện H, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó T mang khẩu súng trên về nơi ở của mình tại khu dân cư Đ, phường H, thị xã C cất giấu ở góc vườn không cho ai biết.
Khoảng 19 giờ ngày 19/4/2017, T lấy khẩu súng trên, giấu vào túi quần bên phải đang mặc và đi bộ từ nhà ra khu vực đập nước ở cùng khu dân cư với mục đích để cho người bạn tên là Đ xem (T không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể của Đ). Sau khi cho Đ xem súng thì T cầm súng đi về nhà, đến đoạn đường liên thôn thuộc khu dân cư Đ, phường H, thị xã Chí Linh thì bị lực lượng Công an thị xã Chí Linh phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại túi quần bên phải T đang mặc khẩu súng nêu trên.
Tại bản Kết luận giám định số 2021/C54(P3) ngày 21/4/2017 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát, kết luận: Khẩu súng gửi đến giám định là súng ngắn được chế tạo theo kiểu súng ổ quay bắn đạn cỡ 5,6 mm, có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng, thuộc vũ khí quân dụng. Khi sử dụng bắn đạn vào cơ thể người có thể gây sát thương (chết hoặc bị thương).
Tại bản cáo trạng số 33/VKS - HS ngày 30/5/2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo Bùi Thành T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Thành T phạm tội "Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; áp dụng khoản 1 Điều 230, điểm p khoản 1 Điều 46; điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a khoản 2 Điều 76, Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, được trừ 03 ngày bị cáo đã bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành từ 14 tháng 27 ngày tù đến 17 tháng 27 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về xử lý vật chứng: Tịch thu khẩu súng đã thu giữ của bị cáo giao cho Ban chỉ huy quân sự thị xã C, tỉnh Hải Dương xử lý theo thẩm quyền; về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo,
XÉT THẤY:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ, ngày 19/4/2017, tại đoạn đường liên thôn thuộc khu dân cư Đ, phường H, thị xã C, tỉnh Hải Dương, Bùi Thành T có hành vi cất giữ trái phép trong túi quần đang mặc 01 khẩu súng kiểu súng ổ quay bắn đạn cỡ 5,6 mm, có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng, thuộc vũ khí quân dụng thì bị Công an thị xã Chí Linh phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối vũ khí quân dụng. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giữ khẩu súng trên là trái phép và bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 230 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận tội, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo là con của người có công với cách mạng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có lợi cho bị cáo được quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 nên căn cứ hướng dẫn tại các Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2015; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về nhân thân: Năm 2007 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thị huyện Chí Linh (nay là thị xã Chí Linh), tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo bản án hình sự số 47/2007/HSST ngày 04/9/2007. Tuy bị cáo đã được xóa án tích đối với bản án trên nhưng xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.
Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Xét tính chất hành vi bị cáo thực hiện và điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối tượng tên Đ được bị cáo cho xem súng, biết bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng nhưng không tố giác tội phạm. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau nên không xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với khẩu súng đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu giao cho Ban chỉ huy quân sự thị xã C xử lý theo thẩm quyền theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999 và điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo có tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Thành T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
Áp dụng khoản 1 Điều 230, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Bùi Thành T 18 (mười tám) tháng tù, được trừ 03 ngày bị cáo đã bị tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 01 khẩu súng kiểu ổ quay giao cho Ban chỉ huy quân sự thị xã C, tỉnh Hải Dương xử lý theo thẩm quyền.
(Vật chứng hiện do Ban chỉ huy quân sự thị xã C quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/5/2017 giữa Công an thị xã Chí Linh và Ban chỉ huy quân sự thị xã C).
Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Thành T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Chí Linh; - Công an thị xã Chí Linh; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn Lâm |