vanban.org

Bản án 35/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 05/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 - Điều 194; Điểm p - khoản 1, 2 - Điều 46 – Bộ luật Hình sự 1999; Khoản 3 – Điều 7; Điểm x – khoản 1 – Điều 51; Khoản 1 - Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2017/HSST
Ngày 05/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Giới

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bẩy

2. Ông Bùi Quốc Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Ông Hà Anh Bắc - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 05 tháng 9 năm 2017, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2017/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2017/HSST ngày 21/8/2017, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Phạm Văn T - Tên gọi khác: Không.

- Sinh ngày 10/10/1968, tại thị xã Đ, tỉnh Q.

- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Q.

- Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không

- Trình độ văn hoá: 10/12 - Nghề nghiệp: không.

- Họ và tên bố: Phạm Văn H - Sinh năm: 1930 (Đã chết).

- Họ và tên mẹ: Vũ Thị C – Sinh năm: 1932.

- Anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ năm.

- Vợ: Vũ Thị M – Sinh năm: 1973 (Đã ly hôn).

- Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2006.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 05/6/2017, hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy, nên khoảng khoảng 13h ngày 05/6/2017, Phạm Văn T đi xe ô tô khách từ nhà đi đến khu vực quận N, thành phố H. Tại đây, T gặp và mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) 05 (năm) gói ma túy loại Heroine, được bọc trong 01 (Một) gói giấy bạc, với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T cất giấu toàn bộ số ma túy vừa mua được vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đón ô tô khách quay về nhà. Khoảng 17h 45 phút cùng ngày, khi T về đến khu vực Cầu V, thuộc thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Q thì bị Công an thị xã Đông Triều kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ trên người T gồm: Trong túi áo ngực bên trái 01 (một) gói giấy, bên trong có 05 (năm) gói nhỏ chứa chất bột màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số 366/GĐMT ngày 07/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng trong 05 (Năm) gói giấy gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, tổng trọng lượng 0,39g (Không phẩy ba chín gam).

(Heroine nằm trong danh mục I, STT: 20 Nghị định 82/NĐ – CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất.)

Quá trình điều tra, Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Bản cáo trạng số 38/KSĐT - HS ngày 01/8/2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đ, tỉnh Q truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 - điều 194 – Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo Phạm Văn T vẫn tìm mua ma túy để sử dụng, sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu trong người thì bị bắt quả tang, kết quả giám định là Heroine có trọng lượng 0,39g (không phẩy ba chín gam). Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 - Điều 194; Điểm p - khoản 1, 2 - Điều 46 - Bộ luật Hình sự 1999; Khoản 3 – Điều 7; điểm x – khoản 1 – Điều 51 – Bộ luật Hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Xử phạt: Phạm Văn T từ 12 đến 18 tháng tù. Áp dụng điểm c - khoản 1 - điều 41 – Bộ luật hình sự, điểm a - khoản 2 - Điều 76 – Bộ luật Tố tụng hinh sự, tịch thu tiêu hủy 0,33g (Không phẩy ba ba gam) Heroine hoàn lại sau giám định trong 01 phong bì niêm phong số 366/GĐMT. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì, không trình bày lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T có lời khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với quá trình điều tra. Lời khai của bị cáo thể hiện:

Khoảng 17h 45’ ngày 05/6/2017, tại khu vực Cầu V, thuộc thôn C, xã H, thị xã Đ, tỉnh Q, Phạm Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 05 (năm) gói ma túy loại Heroine, có trọng lượng 0,39g (Không phẩy ba chín gam), mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Người làm chứng là anh Ngô Đức H và chị Ngô Thị Đ có lời khai phù hợp lời khai của bị cáo về việc bắt quả tang bị cáo cùng tang vật và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra.

Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai người làm chứng, phù hợp kết quả điều tra; Phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thừa nhận bản luận tội của Kiểm sát viên là đúng, không tranh luận gì. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1- Điều 194 - Bộ luật hình sự.

Điều 194 - Bộ luật hình sự quy định:

..."1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.” ...

Về khách thể: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền nhà nước về quản lý các chất gây nghiện là khách thể quan trọng luôn được pháp luật đề cao và bảo hộ.

Về chủ thể, bị cáo là người đã trưởng thành có trình độ văn hóa 10/12, đủ năng lực chịu trách nhiệm pháp luật.

Về mặt chủ quan, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý.

Về mặt khách quan, bị cáo đã cất giấu trái phép 0,39g (Không phẩy ba chín gam) ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng.

Như chúng ta đã biết, ma túy là nguyên nhân làm lây lan đại dịch HIV/AIDS, và là nguyên nhân phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm, trong khi Nhà nước và cộng đồng đang nỗ lực tìm mọi biện pháp ngăn chặn, nhằm đẩy lùi tệ nạn ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự xã hội trên địa bàn, nguy hiểm cho xã hội, tiếp tay cho tội phạm về ma túy. Nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly bị cáo khỏi cộng đồng một thời gian để giáo dục cải tạo, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đề cao công tác phòng chống tội phạm.

Xét nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, quá trình khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bố bị cáo là người có công với cách mạng; Mặt khác bị cáo đã tham gia Quân đội, được thưởng Huy chương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p - khoản 1, khoản 2 - Điều 46 - Bộ luật hình sự 1999 và điểm x – khoản 1 – Điều 51 – Bộ luật Hình sự 2015. Mặt khác, theo Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017, của Quốc hội quy định về việc thi hành Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13, áp dụng các tình tiết có lợi cho người phạm tội trước khi Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2015 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có hiệu lực thi hành, khoản 3 – điều 7 – Bộ luật hình sự 2015. Đồng thời điều 249 – Bộ luật hình sự 2015 quy định:

“1. người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

....

c) Hêrôin, Coocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05gam.”

Nên giảm nhẹ một phần hình phạt, để bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật mà cải tạo cho tốt.

Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.

Về vật chứng của vụ án: 0,33g (không phẩy ba ba gam) chất ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định, tịch thu tiêu hủy.

Về án phí, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho T, quá trình điều tra chưa xác định được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Đông Triều tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 - Điều 194; Điểm p - khoản 1, 2 - Điều 46 – Bộ luật Hình sự 1999; Khoản 3 – Điều 7; Điểm x – khoản 1 – Điều 51; Khoản 1 - Điều 249 - Bộ luật hình sự 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 05/6/2017.

Áp dụng: - Điểm c - khoản 1 - Điều 41 – Bộ luật hình sự;

- Điểm a - khoản 2 - Điều 76 – Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ 0,33g (Không phẩy ba ba gam) chất Heroine hoàn lại sau giám định, trong 01 (một) phong bì số 366/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ninh.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 43 ngày 01/8/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều)

Căn cứ :

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Điều 99 - Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc Phạm Văn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ