- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Văn Y, Nguyễn Thị H-Phạm Văn Q, Phạm Văn C, Phạm Văn T"
- Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 349/2022/DS-PT Ngày: 29-8-2022. V/v: Đòi quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Mai Tiến Dũng
Các thẩm phán:
Ông Trương Chí Anh
Ông Lê Thanh Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2021/TLPT-DS ngày 29/01/2021 về việc "Đòi quyền sử dụng đất".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 249/2022/QĐ-PT ngày 04/7/2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông PVY1, sinh năm 1959; Có mặt.
Bà NTH2, sinh năm 1961; Có mặt.
Cùng trú tại: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Tp. Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoa: Luật sư Đỗ Văn Minh, Văn phòng Luật sư Đỗ Minh. Địa chỉ: tầng 5 phòng 502, Nhà C4 (cầu thang 1), tập thể Thành Công, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông PVQ3, sinh năm 1964; ông PVC4, sinh năm 1942, ông PVT5, sinh năm 1945; Vắng mặt ông Quý, ông Chi, ông Tiện.
Cùng trú tại: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Tp. Hà Nội.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Uỷ ban nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Thị Na; chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Đức. Theo Giấy uỷ quyền số 176/GUQ-UBND ngày 15/7/2020; Vắng mặt.
3.2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn:
- Ông Phạm Văn Quảng, sinh năm 1932; anh Phạm Văn Hùng, sinh năm 1982; anh Phạm Văn Trung, sinh năm 1985; anh Phạm Văn Thực, sinh năm 1987; anh Phạm Văn Thắng, sinh năm 1992. Có mặt anh Hùng; anh Trung và bà Hoa.
- Người đại diện theo ủy quyền của anh Phạm Văn Trung, anh Phạm Văn Thực, anh Phạm Văn Hùng, anh Phạm Văn Thắng: Bà NTH2, sinh năm 1961; Trú tại: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Có mặt..
3.3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (có danh sách kèm theo): STT
Họ và tên
Năm
Địa chỉ
Ghi chú
sinh
Phạm Văn Khánh
1935 Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, 1.
huyện Hoài Đức, Hà Nội
Phạm Văn Khiêm
1961 như trên
2.
Phạm Văn Thanh
1977 như trên
3.
Phạm Văn Tùng
1985 như trên
4.
Cao Thị Oanh
1945 như trên
5.
Phạm Văn Đoài
1945 như trên
6.
Phạm Văn Vịnh
1936 như trên
7.
Phạm Văn Cường
1990 như trên
8.
Phạm Văn Minh
1975 như trên
9.
Phạm Văn Thu
1972 như trên
10.
Phạm Thị Thuý
1995 như trên
11.
Phạm Văn Phong
1963 như trên
12.
Nguyễn Thị Hồng
1962 như trên
13.
Phạm Văn Tâm
1971 như trên
14.
Phạm Văn Đức
1967 như trên
15.
Phạm Văn Nam
1987 như trên
16.
Phạm Văn Chương
1950 như trên
17.
Phạm Văn Đoàn
1975 như trên
18.
Phạm Thế Anh
1977 như trên
19.
Phạm Văn Khiêm
1954 như trên
20.
Nguyễn Thị Tý
1937 như trên
21.
Phạm Văn Định
1942 như trên
22.
Phạm Văn Dũng
1943 như trên
23.
Phạm Văn Thái
1974 như trên
24.
Phạm Tuấn Hà
1968 như trên
25.
Phạm Văn Dần
1962 như trên
26.
Phạm Văn Trọng
1971 như trên
27.
Phí Thị Nhung
1974 như trên
28.
Hoàng Thị Thứ
1945 như trên
29.
Phạm Văn Tuyên
1966 như trên
30.
Phạm Văn Huân
1941 như trên
31.
Nguyễn Thị Hưu
1931 như trên
32.
PVC4ến
1966 như trên
33.
Phạm Văn Đức
1994 như trên
34.
Phạm Văn Phả
1960 như trên
35.
Nguyễn Thị Tình
1936 như trên
36.
Phạm Văn Tường
1945 như trên
37.
Phạm Văn Thực
1977 như trên
38.
Phạm Văn Hưởng
1964 như trên
39.
Phạm Văn Thắng
1965 như trên
40.
Phạm Văn Thành
1966 như trên
41.
PVQ3
1959 như trên
42.
Phạm Văn Lương
1962 như trên
43.
Phạm Văn An
1963 như trên
44.
Phạm Văn Xương
1965 như trên
45.
Phạm Văn Tuấn
1972 như trên
46.
Phạm Văn Hữu
1960 như trên
47.
Phạm Văn Quang
1975 như trên
48.
Phạm Văn Tiến
1969 như trên
49.
Phạm Văn Hùng
1977 như trên
50.
Phạm Văn Tuấn
1975 như trên
51.
Phạm Văn Tráng
1994 như trên
52.
Phạm Văn Phép
1930 như trên
53.
Phạm Văn Trung
1974 như trên
54.
Phạm Văn Bằng
1967 như trên
55.
Phạm Văn Thức
1943 như trên
56.
Phạm Văn Chính
1968 như trên
57.
Phạm Văn Dũng
1941 như trên
58.
Phạm Văn Dậu
1957 như trên
59.
Phạm Văn Thưởng
1943 như trên
60.
Phạm Văn Vinh
1963 như trên
61.
Phạm Văn Phong
1940 như trên
62.
Phạm Anh Tú
1980 như trên
63.
Phạm Đức Toàn
1966 như trên
64.
Phạm Mạnh Hùng
1944 như trên
65.
Phạm Văn Dư
1979 như trên
66.
Phạm Văn Lực
1973 như trên
67.
Phạm Văn Quyền
1977 như trên
68.
Phạm Thị Hợi
1948 như trên
69.
Phạm Văn Giáp
1964 như trên
70.
Phạm Văn Giang
1985 như trên
71.
Phạm Văn Trường
1988 như trên
72.
Phạm Văn Thành
1992 như trên
73.
Phạm Thị Hợi
1922 như trên
74.
Phí Thị Thọ
1960 như trên
75.
Phạm Anh Tuấn
1986 như trên
76.
Phạm Thị Xuyên
1937 như trên
77.
Phạm Văn Tú
1987 như trên
78.
Hoàng Thị Tỵ
1953 như trên
79.
Nguyễn Thị Hồng
1962 như trên
80.
Phạm Văn Nhương
1912 như trên
81.
Phạm Văn Sơn
1984 như trên
82.
Phạm Văn Phương
1961 như trên
83.
Phạm Văn Đang
1934 như trên
84.
Nguyễn Thị Tấm
1935 như trên
85.
Phạm Văn Bi
1953 như trên
86.
Phạm Quỳnh Diên
1956 như trên
87.
Cao Thị Tình
1941 như trên
88.
Phạm Tuấn Việt
1988 như trên
89.
Phạm Hồng Quyền
1986 như trên
90.
Phạm Văn Khánh
1958 như trên
91.
Phạm Văn Thuấn
1990 như trên
92.
Phạm Văn Thành
1984 như trên
93.
Phạm Văn Hoàn
1987 như trên
94.
Phạm Văn An
1956 như trên
95.
Phan Thị Liên
1957 như trên
96.
Phạm Văn Bình
1982 như trên
97.
Cao Thị Hiền
1936 như trên
98.
Phạm Văn Tám
1976 như trên
99.
Phạm Văn Thuỷ
1962 như trên
100.
Phạm Văn Nam
1985 như trên
101.
Phạm Thị Hằng
1952 như trên
102.
Phạm Thị Lan
1948 như trên
103.
Phạm Minh Tuệ
1974 như trên
104.
Phạm Thị Muộn
1961 như trên
105.
Phạm Văn Đoàn
1954 như trên
106.
Phạm Văn Hà
1987 như trên
107.
Phạm Văn Trấn
1959 như trên
108.
Phạm Văn Đặng
1980 như trên
109.
Phạm Văn Ngọ
1930 như trên
110.
Phạm Thị Thìn
1940 như trên
111.
Phạm Văn Quân
1976 như trên
112.
Phạm Văn Sơn
1959 như trên
113.
Phạm Trung Kiên
1993 như trên
114.
Phạm Văn Biểu
1932 như trên
115.
Phạm Văn Thành
1972 như trên
116.
Phạm Văn Vinh
1964 như trên
117.
Phạm Văn Dĩnh
1947 như trên
118.
PVQ3
1963 như trên
119.
Phạm Văn Đan
1955 như trên
120.
Phạm Văn Đức
như trên 121.
Phạm Thế Hùng
1954 như trên
122.
Phạm Văn Quát
1943 như trên
123.
Phạm Văn Thiều
1960 như trên
124.
Phạm Văn Mạo
1937 như trên
125.
Phạm Văn Châu (năm)
1965 như trên
126.
Phạm Văn Ri
1942 như trên
127.
Phạm Văn Thọ
1993 như trên
128.
Phạm Thị Tâm
1943 như trên
129.
Phạm Văn Hùng
1978 như trên
130.
Phạm Văn Phương
1955 như trên
131.
Phạm Văn Trân
1965 như trên
132.
PVY1
1974 như trên
133.
Phạm Văn Lọi
1947 như trên
134.
Phạm Văn Thật
1989 như trên
135.
Phạm Văn Hinh
1965 như trên
136.
Phạm Văn Huynh
1968 như trên
137.
Phạm Văn Kiên
1990 như trên
138.
Phạm Văn Đỗ
1988 như trên
139.
Phạm Ngọc Tuấn
1982 như trên
140.
Phạm Trung Thành
1993 như trên
141.
Phạm Thanh Hà
1989 như trên
142.
Phạm Văn Sơn
1964 như trên
143.
Phạm Đức Thịnh
1970 như trên
144.
Phạm Đức Việt
1994 như trên
145.
Phạm Mạnh Dư
1979 như trên
146.
Phạm Văn Lực
1977
như trên 147.
Nguyễn Thị Nhỡ
1944
như trên 148.
Phạm Văn Điệp
1981
như trên 149.
Phạm Văn Sơn
1938
như trên 150.
Phạm Văn Hải
1961
như trên 151.
Phạm Văn Dũng
1985
như trên 152.
Phạm Văn Tựu
1930
như trên 153.
Phạm Văn Bính
1955
như trên 154.
Phạm Văn Lượng
1952
như trên 155.
Phạm Văn Lọi
1948
như trên 156.
Phạm Tuấn Anh
1985
như trên 157.
Phạm Hồng Quang
1965
như trên 158.
Phạm Văn Thành
1957
như trên 159.
Cao Văn Thắng
1956
như trên 160.
Cao Văn Thuỷ
1982
như trên 161.
Phạm Văn Đích
1971
như trên 162.
Phạm Mạnh Huống
1958
như trên 163.
Phạm Văn Quang
1971
như trên 164.
Phạm Văn Toàn
1976
như trên 165.
Phạm Tuấn Sửu
1949
như trên 166.
Phạm Văn Ba
1984
như trên 167.
Phạm Văn Nghĩa
1976
như trên 168.
Phạm Văn Hải
1965
như trên 169.
Phạm Văn Thuận
1990
như trên 170.
Phạm Văn Phong
1963
như trên 171.
Phạm Văn Tiệp
1945
như trên 172.
Nguyễn Thị Thanh Hoa
1991
như trên 173.
Phạm Thị Hảo
1993
như trên 174.
Phạm Văn Thuỳ
1988
như trên 175.
Phạm Văn Phát
1954
như trên 176.
PVQ3
1985
như trên 177.
Phạm Văn Đoan
1978
như trên 178.
Phạm Văn Thọ
1976
như trên 179.
Phạm Tuấn Hưởng
1976
như trên 180.
Phạm Hoàng Huấn
1973
như trên 181.
Phạm Thị Đảm
1964
như trên 182.
Phạm Văn Chuẩn
1968
như trên 183.
Phạm Văn Hướng
1976
như trên 184.
Phạm Văn Quynh
1990
như trên 185.
Phạm Văn Phấn
1987
như trên 186.
Phạm Văn Quyền
1988
như trên 187.
Phạm Văn Phong
1963
như trên 188.
Phạm Văn Trọng
1976
như trên 189.
Phạm Văn Được
1953
như trên 190.
Phạm Văn Thược
1954
như trên 191.
Phạm Văn Trường
1984
như trên 192.
Phạm Văn Thọ
1981
như trên 193.
Phạm Văn Thục
1992
như trên 194.
Phạm Văn Thọ
1973
như trên 195.
Phạm Văn Chỉ
như trên 196.
Phạm Văn Tùng
1991
như trên 197.
Phạm Văn Chính
như trên 198.
Phạm Văn Phương
1983
như trên 199.
Phạm Văn Đông
1976
như trên 200.
Phạm Văn Hùng
1941
như trên 201.
Phạm Văn Dũng
1972
như trên 202.
Phạm Văn Đệ
1971
như trên 203.
Phạm Văn Lê
1972
như trên 204.
Phạm Văn Hường
1994
như trên 205.
Trần Thị Ý
1958
như trên 206.
Phạm Văn Khương
1994
như trên 207.
Nguyễn Thị Ngư
1942
như trên 208.
Phạm Văn Phương
1955
như trên 209.
PVY1
1974
như trên 210.
Phạm Văn Phúc
1977
như trên 211.
Phạm Văn Ứng
1989
như trên 212.
Phạm Văn Đức
1980
như trên 213.
Phạm Văn Tý
1927
như trên 214.
Phạm Văn Khang
1972
như trên 215.
Phạm Văn Quang
1978
như trên 216.
Phạm Văn Lợi
1980
như trên 217.
Phạm Văn Phúc
1976
như trên 218.
Phạm Văn Hồng
1985
như trên 219.
Phạm Văn Thắng
1978
như trên 220.
Phạm Văn Huy
1990
như trên 221.
Phạm Văn Trọng
1985
như trên 222.
Phạm Văn Tiến
1987
như trên 223.
Phạm Văn Giang
1967
như trên 224.
Phạm Văn Hà
1972
như trên 225.
Phạm Văn Sâm
1968
như trên 226.
Phạm Văn Quế
1991
như trên 227.
Phí Thị Nhâm
1941
như trên 228.
Phạm Văn Tuyên
1973
như trên 229.
Phạm Thành Trung
1990
như trên 230.
Phạm Hồng Quân
1982
như trên 231.
Phạm Văn Toàn
1958
như trên 232.
Phạm Văn Thắng
1966
như trên 233.
Phạm Văn Tuấn
1969
như trên 234.
Phạm Văn Dũng
1981
như trên 235.
Phạm Văn Hà
1981
như trên 236.
Phạm Văn Hồng
1979
như trên 237.
Phạm Văn Hùng
1973
như trên 238.
Phạm Văn Hoà
1973
như trên 239.
Phạm Văn Trường
1918
như trên 240.
Phạm Thị Việt
1940
như trên 241.
Phạm Thị Trí
1940
như trên 242.
Phạm Văn Tuất
1982
như trên 243.
Phạm Văn Chung
1986
như trên 244.
Phạm Văn Long
1981
như trên 245.
Phạm Đức Tuấn
1964
như trên 246.
Phạm Văn Đông
1986
như trên 247.
Phạm Văn Bắc
1988
như trên 248.
Phạm Anh Tuấn
1979
như trên 249.
Phạm Văn Toàn
1983
như trên 250.
Phạm Văn Đức
1963
như trên 251.
Phạm Văn Mạnh Cường
1991
như trên 252.
Phạm Văn Mạnh Hùng
1988
như trên 253.
Phạm Văn Đức
1957
như trên 254.
Phạm Văn Đức
1968
như trên 255.
Phạm Văn Quyền
1981
như trên 256.
Phạm Văn Cường
1968
như trên 257.
Phạm Văn Được
1965
như trên 258.
Phạm Văn Kiên
1990
như trên 259.
Phạm Hà Dũng
1992
như trên 260.
Phạm Ngọc Tuấn
1971
như trên 261.
Phạm Văn Đạt
1931
như trên 262.
Phạm Đức Dũng
1980
như trên 263.
Phạm Văn Quang
1969
như trên 264.
Phạm Văn Hưng
1980
như trên 265.
Phạm Văn Hưởng
1986
như trên 266.
Phạm Văn Hùng
như trên 267.
Nguyễn Thị Thảo
1979
như trên 268.
Phạm Văn Phong
1986
như trên 269.
Phạm Văn Dư
1982
như trên 270.
Phạm Văn Hoa
1974
như trên 271.
Phạm Văn Hùng
1969
như trên 272.
Phạm Văn Hào
1981
như trên 273.
Phạm Văn Phúc
1958
như trên 274.
Phạm Văn Nam
1988
như trên 275.
Phạm Văn Kiên
1990
B7, Trung Hòa, Nhân Chính, 276.
Thanh Xuân, Hà Nội
Phạm Văn Kỷ
1959
như trên 277.
Phạm Văn Chư
1975
Lưu Xá, Đức Giang 278.
Phạm Văn Chính
1985
như trên 279.
Phạm Văn Châu
1984
như trên 280.
Phạm Văn Chuyên
1983
như trên 281.
Phạm Văn Mạnh
1994
như trên 282.
Phạm Mạnh Thắng
1975
như trên 283.
Phạm Mạnh Toàn
1976
như trên 284.
Cao Thị Thu
1968
như trên 285.
Nguyễn Thị Minh
1969
như trên 286.
Phạm Văn Đích
1979
như trên 287.
Phạm Văn Phong
1978
như trên 288.
Phạm Văn Thịnh
1959
như trên 289.
Phạm Văn Bính
1956
như trên 290.
Phạm Văn Đông
1974
như trên 291.
Phạm Thị Vi
1954
như trên 292.
Phạm Thị Huyên
1960
như trên 293.
Phạm Thị Nhuệ
1951
như trên 294.
Phạm Thị Miễn
1938
như trên 295.
Phạm Thị Thanh
1971
như trên 296.
Phạm Thị Liên
1959
như trên 297.
Phạm Văn Hướng
như trên 298.
Trịnh Thị Thảo
như trên 299.
Tại phiên tòa có mặt:
1. Ông Phạm Văn Chương, sinh năm 1950;
2. Ông Phạm Văn Thành, sinh năm 1957;
3. Ông Phạm Văn Đức, sinh năm 1968;
4. Ông Phạm Văn Tâm, sinh năm 1971;
5. Ông Phạm Đức Toàn, sinh năm 1966;
6. Ông Phạm Văn Tuấn, sinh năm 1972;
7. Ông Phạm Văn Phả, sinh năm 1960;
8. Ông Phạm Văn Khiêm, sinh năm 1961;
9. Ông Phạm Văn Hùng, sinh năm 1970;
10. Ông Phạm Văn Hinh, sinh năm 1966;
11.Bà Trịnh Thị Khanh, sinh năm 1962;
12. Bà Nguyễn Thị Miện, sinh năm 1963;
13. Ông Phạm Văn Hùng, sinh năm 1944;
14. Ông Phạm Văn Mạo, sinh năm 1936;
15. Ông Phạm Văn Cường, sinh năm 1945.
- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn:
+ Ông Phạm Văn Đoàn, sinh năm 1954. Vắng mặt.
+ Ông Phạm Văn Dĩnh, sinh năm 1947. Vắng mặt.
+ Ông Phạm Văn Thái, sinh năm 1974. Có mặt.
+ Ông Phạm Văn Huân, sinh năm 1941. Có mặt.
+ Ông Phạm Văn Đoài, sinh năm 1945. Có mặt.
+ Ông Phạm Văn Bằng, sinh năm 1967. Có mặt.
+ Ông Phạm Văn Phương, sinh năm 1961. Có mặt.
Đều trú tại: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Tp. Hà Nội.
Do có kháng cáo của nguyên đơn là ông PVY1, bà NTH2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Thái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
- Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, các tài liệu khác cung cấp cho Tòa án, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông PVY1 và bà NTH2 là nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn trình bày:
Thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của cha ông của ông PVY1 để lại cho ông PVY1 và bà NTH2. Năm 2006, ông Yên và bà Hoa được UBND huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về thửa đất trên. Tháng 4/2008, ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 đứng lên tổ chức vận động những người trong họ Phạm đến khủng bố và ép buộc ông PVY1 viết giấy xác nhận đề ngày 10/4/2008 và ngày 21/4/2008 và ký kết vào nhiều văn bản do dòng họ Phạm với nội dung thừa nhận thửa đất tranh chấp có một phần diện tích đất của dòng họ Phạm và nhận sai sót khi tháo dỡ ngôi nhà từ đường (nhà thờ) của họ Phạm để xây dựng nhà ở mà không xin ý kiến của dòng họ Phạm.
Sau đó ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm đã chiếm đất và xây các công trình trên diện tích 120,1m2 của thửa đất, cụ thể: nhà thờ diện tích 70,5m2; lán tôn sát hộ bà Vi diện tích 27,3m2; sân trước nhà thờ (giáp đường đi) diện tích 16,8m2; khu phụ diện tích 5,5m2. Do gia đình bà không hiểu biết nên khi các thành viên trong dòng họ tiến hành xây dựng công trình trên đất, gia đình ông bà có đóng góp tiền xây dựng nhà thờ họ nhưng sau đó bị trả lại. Gia đình bà không gửi đơn thư, trình báo ngay với các cơ quan có thẩm quyền theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật để ngăn chặn việc xây dựng các công trình trái phép trên đất của gia đình bà, dẫn đến các công trình xây dựng đã hoàn thiện như hiện nay.
Nay gia đình ông bà yêu cầu ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm tháo dỡ nhà và trả lại đất cho ông bà.
Ông Yên và bà Hoa không chấp nhận bồi thường giá trị công trình trên đất cho ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm vì họ xây dựng công trình trái phép trên thửa đất của gia đình ông bà. Ông Yên và bà Hoa không yêu cầu ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm bồi thường thiệt hại về hành vi chiếm đất trái pháp luật.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn gồm: ông Phạm Văn Quảng, bà Cao Thị Thụ (đã chết), anh Phạm Văn Trung, anh Phạm Văn Thực, anh Phạm Văn Hùng, anh Phạm Văn Thắng có quan điểm như bên nguyên đơn và ủy quyền cho bà NTH2 giải quyết và quyết định mọi vấn đề có tranh chấp trong vụ án.
- Tại Biên bản ghi lời khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Quảng và bà Cao Thị Thụ cùng trình bày:
Thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có nguồn gốc của cha ông để lại cho gia đình ông bà theo phong tục địa phương là trưởng kế trưởng, nghĩa là các con trưởng của các đời sẽ được quản lý, sử dụng đất cha ông để lại. Tài sản các cụ để lại trên thửa đất gồm có một ngôi nhà ngói 05 gian, 01 giếng khơi, 02 gian bếp, 04 gian chuồng lợn và sân gạch chỉ.
Bố mẹ ông Quảng có một mình ông Quảng là con trai nên đương nhiên ông Quảng được quyền quản lý, sử dụng thửa đất trên và có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên của dòng họ.
Khi nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Quảng và bà Thụ đồng ý cho ông Yên và bà Hoa được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên. Năm 2006, ông Yên và bà Hoa được Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên.
Do nhà ngói lâu năm xuống cấp nên tháng 02/2008, gia đình ông có tháo dỡ toàn bộ nhà cũ và xây dựng nhà ngói cấp 4 như hiện nay. Đến tháng 4/2008 xảy ra tranh chấp giữa gia đình ông và một số thành viên trong họ Phạm mà đứng đầu là ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5. Nguyên nhân mâu thuẫn do các ông cho rằng đất gia đình ông đang ở là của dòng họ, việc xây dựng phải dưới sự cho phép của họ. Thời điểm này ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 hô hào các thành viên trong họ đến ép ông Yên viết giấy xác nhận với nội dung thừa nhận có một phần nhà đất trong thửa đất gia đình ông bà đang ở là của dòng họ. Dưới sự chỉ đạo của 3 ông, họ Phạm đã xây dựng xong các công trình trên đất mà không được sự đồng ý của gia đình ông
Vì điều kiện sức khỏe và ông bà ủy quyền cho ông PVY1 và bà NTH2 thay mặt ông bà giải quyết mọi vấn đề có liên quan trong vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp.
- Tại Biên bản ghi lời khai, các đơn đề nghị nộp tại Tòa án, bị đơn là các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng trình bày:
Thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của dòng họ Phạm. Năm 2006, ông PVY1 lợi dụng là trưởng thôn đã tự ý làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Yên và bà Hoa thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội mà không được sự đồng ý của họ. Nay ông Yên, bà Hoa khởi kiện yêu cầu tháo dỡ công trình họ Phạm xây dựng trên đất để trả lại đất cho ông Yên và bà Hoa thì các ông không đồng ý và đề nghị Tòa án xem xét hủy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Yên và bà Hoa.
Mặt khác, các ông cho rằng việc các ông đứng ra tổ chức xây dựng nhà thờ và các công trình khác trên đất có tranh chấp là do ban đầu có sự đồng ý của gia đình ông PVY1 (có giấy viết tay của ông PVY1), ông PVY1 lúc đó là trưởng họ cùng với Ban kiến thiết (do dòng họ lập ra) đã trực tiếp đi chọn gỗ và các vật liệu để xây dựng nhà thờ trên phần đất tranh chấp hiện nay. Mặt khác, gia đình ông Yên cũng đóng góp tiền để xây dựng nhà thờ họ như các gia đình khác trong họ Phạm.
Các ông là người được dòng họ Phạm cử làm trong Ban kiến thiết và xây dựng nhà thờ dòng họ Phạm trên một phần diện tích của thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Việc xây dựng nhà thờ là để dòng họ Phạm thôn Lưu Xá sử dụng vào việc thờ cúng tổ tiên chung cho cả dòng họ, không có quyền lợi riêng của cá nhân của ai, bản thân các ông không có mâu thuẫn gì với gia đình ông Yên, bà Hoa.
Nhà thờ hiện nay do cả dòng họ Phạm đang quản lý và sử dụng, không liên quan đến bất cứ cá nhân nào, vì vậy các ông không chấp nhận tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án này.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn đều có quan điểm đồng ý với quan điểm của các bị đơn và ủy quyền cho: Ông Phạm Văn Đoàn, sinh năm 1954; ông Phạm Văn Dĩnh, sinh năm 1947; ông Phạm Văn Thái, sinh năm 1974; ông Phạm Văn Huân, sinh năm 1941; ông Phạm Văn Đoài, sinh năm 1945; ông Phạm Văn Bằng, sinh năm 1967; ông Phạm Văn Phương, sinh năm 1961 (là những người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn trong vụ án) tham gia tố tụng tại Tòa án giải quyết mọi vấn đề có tranh chấp trong vụ án.
Ngoài các ý kiến đồng quan điểm với bị đơn, các đại diện cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn có thêm quan điểm là:
Khi dòng họ Phạm xây dựng nhà thờ vào năm 2008 trên một phần diện tích của thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã có sự đồng ý của ông PVY1 và cả gia đình. Ông Yên còn tham gia vào Ban kiến thiết xây nhà thờ, gia đình ông Yên còn đóng góp tiền xây dựng nhà thờ, cung cấp ranh giới đất cho các thành viên trong họ để xây dựng nhà thờ, bản thân ông Yên cùng với các thành viên trong họ Phạm đi chọn mẫu nhà thờ và chọn gỗ để làm nhà thờ.
Việc xây dựng nhà thờ là để dòng họ Phạm thôn Lưu Xá sử dụng vào việc thờ cúng tổ tiên, không có quyền lợi của cá nhân của ai, bản thân các ông không có mâu thuẫn gì với gia đình ông Yên, bà Hoa.
Nhà thờ hiện nay do cả dòng họ Phạm đang quản lý và sử dụng, không liên quan đến bất cứ cá nhân nào. Cả dòng họ thực hiện các nghi lễ thờ cúng tổ tiên thường xuyên trên nhà thờ mới này.
Tại phiên tòa, đại diện cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản tranh chấp vì đã quá 06 tháng kể từ khi định giá, giá các tài sản như nhà thờ và giá đất là thấp so với thị trường.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có quan điểm:
Tại Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức về việc trả lời nội dung đơn kiến nghị của dòng họ Phạm thôn Lưu Xá và đơn tố cáo của bà NTH2 và ông PVY1 kết luận:
Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 cho hộ ông PVY1 thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc dòng họ Phạm Văn, thôn Lưu Xá, xã Đức Giang đề nghị UBND huyện Hoài Đức thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 do UBND huyện Hoài Đức cấp cho hộ ông PVY1 và bà NTH2 là không có cơ sở để giải quyết.
Tại Công văn số 53/CV-TNMT ngày 10/6/2013, ông Hồ Trung Nghĩa là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện Hoài Đức có quan điểm: Giữ nguyên quan điểm tại Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức.
- Theo Biên bản xác minh tại UBND xã Đức Giang về quá trình quản lý, sử dụng thửa đất có tranh chấp như sau:
+ Theo Bản đồ lập năm 1939: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 1274, tờ bản đồ số 05. Do không có sổ mục kê đất nên không có thông tin về diện tích đất và tên chủ sử dụng đất;
+ Theo Bản đồ lập năm 1986 và Sổ mục kê đất năm 1986: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 84, tờ bản đồ số 03, diện tích 357m2, đứng tên chủ sử dụng là bà NTH2;
+ Theo Bản đồ lập năm 2005 và Sổ mục kê đất năm 2005: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 364, tờ bản đồ số 05, diện tích 358m2, đứng tên chủ sử dụng là ông PVY1.
Uỷ ban nhân dân xã Đức Giang lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất thửa đất nêu trên đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, không có ai khiếu nại hoặc thắc mắc gì.
Ngày 07/8/2006, hộ ông PVY1 và bà NTH2 được UBND huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD092142 cho hộ ông PVY1 và bà NTH2.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông PVY1 và bà NTH2 về việc đòi quyền sử dụng đất đối với các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn.
Buộc ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (có danh sách kèm theo) phải thanh toán trả gia đình ông PVY1 và bà NTH2 số tiền giá trị quyền sử dụng đất diện tích 123,2m2 thuộc thửa 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là: 1.478.400.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Trong đó bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (tổng là 302 người), mỗi người phải trách nhiệm thanh toán trả gia đình ông Yên bà Hoa số tiền là 4.895.364đ (bốn triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi tư đồng).
- Giao ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn quyền sở hữu nhà thờ và các công trình trên phần diện tích đất 123,2m2 thuộc thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (có sơ đồ giao đất kèm theo).
- Giao hộ ông PVY1 và bà NTH2 sử dụng phần diện tích đất còn lại 236,8m2 thuộc thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và tài sản gắn liền với đất. (có sơ đồ giao đất kèm theo).
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 do Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) cấp ngày 07/8/2006 cho hộ ông PVY1 và bà NTH2.
3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, ông Yên, bà Hoa và ông Thái đã nộp đơn kháng cáo.
* Theo đơn kháng cáo của nguyên đơn là ông PVY1 và bà NTH2 đề ngày 08/10/2020: kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức.
Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: sửa bản án sơ thẩm, trả lại quyền sử dụng toàn bộ thửa đất 364, tờ bản đồ 05, diện tích 360m2 tại thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội cho gia đình ông Yên, bà Hoa, các bị đơn và toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan di dời ngôi nhà mà họ đã xây dựng trên thửa đất của gia đình ông bà.
* Theo đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Thái đề ngày 09/10/2020: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức.
Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông, áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 308 BLTTDS 2015, tuyên huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Tại phiên tòa:
Các đương sự giữ nguyên các yêu cầu và trình bày của mình. Các đương sự không xuất trình tài liệu chứng cứ mới và không thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ án.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu và đề nghị: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Yên và bà Hoa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Vì vậy, ông PVY1 và bà NTH2 được quyền sử dụng hợp pháp toàn bộ thửa đất hiện nay đang tranh chấp. Việc các bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là thành viên trong dòng họ Phạm xây dựng một ngôi nhà để thờ cúng trên một phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông Yên, bà Hoa mà không được phép của gia đình ông Yên bà Hoa là hành vi vi phạm pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Yên và bà Hoa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Thẩm phán và thư ký Tòa án tham gia phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Sau khi phân tích, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị HĐXX: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
. Về tố tụng: kháng cáo của ông PVY1, bà NTH2, ông Phạm Văn Thái đối với bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong thời hạn và đã thực hiện theo quy định của pháp luật là hợp pháp.
Tại phiên tòa, ông Yên và bà Hoa không ủy quyền cho ông Đỗ Đức Thiện. Ông Huân, ông Thái, ông Đoài, ông Thắng, ông Dậu không mời các luật sư Phạm Thanh Bình và luật sư Phạm Văn Ái bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các ông.
. Về nội dung:
. Xét kháng cáo của ông ông PVY1, bà NTH2, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Về nguồn gốc đất: Theo Bản đồ lập năm 1939: Thửa đất đang tranh chấp có số thửa là 1274, tờ bản đồ số 05. Do không có sổ mục kê đất nên không có thông tin về diện tích đất và tên chủ sử dụng đất; Theo Bản đồ lập năm 1986 và Sổ mục kê đất năm 1986: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 84, tờ bản đồ số 03, diện tích 357m2, đứng tên chủ sử dụng là bà NTH2; Theo Bản đồ lập năm 2005 và Sổ mục kê đất năm 2005: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 364, tờ bản đồ số 05, diện tích 358m2, đứng tên chủ sử dụng là ông PVY1.
Tuy nhiên, theo lời khai của các đương sự, biên bản xác minh đều xác nhận ngôi nhà mà gia đình ông Yên đã tháo dỡ là của dòng họ Phạm, hàng năm vẫn thực hiện giỗ tết dòng họ tại đây. Tại Biên bản họp hòa giải (bút lục 583) ngày 31/10/2008 do UBND xã Đức Giang tiến hành họp hòa giải thì ông Yên đã thừa nhận “gia đình ông Yên xin bồi thường dòng họ theo luật định vì đã dỡ nhà thờ họ mà không xin phép dòng họ”. Tại đơn đề nghị ngày 21/4/2008 và Văn bản xác nhận của gia đình ông PVY1 đều thừa nhận: Đất này của dòng họ có 1 phần của gia đình; Nhà này của dòng họ có một phần đóng góp của gia đình. Mặc dù ông Yên và đại diện dòng họ xác định diện tích đất tranh chấp có một phần diện tích đất của dòng họ và một phần diện tích đất của gia đình ông Yên nhưng các bên không xuất tình được các chứng cứ cụ thể để xác định diện tích đất của dòng họ là bao nhiêu và của gia đình ông Yên là bao nhiêu và cụ thể ở vị trí nào.
Ngày 07/8/2006, hộ ông PVY1 và bà NTH2 được UBND huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD092142 về thửa đất nêu trên. Trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có việc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, trong thời gian niêm yết công khai theo quy định, không có bất cứ ý kiến phản đối nào về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Yên, bà Hoa. Mặc dù các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn đều cư trú tại địa phương.
Mặt khác, khi các bên xảy ra tranh chấp, dòng họ Phạm đã có đơn đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Yên, bà Hoa. Tại Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức về việc trả lời nội dung đơn kiến nghị của dòng họ Phạm thôn Lưu Xá và đơn tố cáo của bà NTH2 và ông PVY1 đã kết luận về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 cho hộ ông PVY1 đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Sau khi nhận thông báo về việc giải quyết đơn kiến nghị về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Yên và bà Hoa, các thành viên trong dòng họ Phạm Văn không có khiếu nại hay khởi kiện vụ án Hành chính theo quy định của pháp luật, nên Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức đã có hiệu lực thi hành.
Do vậy, có đủ cơ sơ xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD092142 cấp cho hộ ông PVY1 và bà NTH2 là đúng trình tự thủ tục, quy định của pháp luật.
Nay ông Yên, bà Hoa khởi kiện đòi quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản là nhà thờ và các công trình xây dựng trên phần diện tích đất đang tranh chấp:
Khi ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn, tổ chức, tiến hành xây dựng các công trình trên diện tích đất hiện nay có tranh chấp thì ông PVY1 đã tự viết giấy và nhiều lần ký vào văn bản do họ Phạm lập với nội dung thừa nhận trong thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có một phần diện tích đất của dòng họ Phạm. Các thành viên khác trong gia đình ông PVY1 không phản đối việc xây dựng ngôi nhà thờ này. Trên cơ sở các văn bản ông Yên viết và ký, ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm đã tổ chức và tiến hành xây dựng các công trình trên đất tranh chấp như hiện nay. Ranh giới để xây dựng nhà thờ được ông Yên và gia đình xác định cho bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xây. Ông Yên và các thành viên trong gia đình ông Yên cho rằng gia đình ông bị các thành viên trong họ Phạm ép buộc ông phải viết giấy thừa nhận dòng họ có một phần đất trong thửa đất tranh chấp nhưng không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông Yên và gia đình ông Yên bị ép buộc và không có căn cứ thể hiện gia đình ông Yên có trình báo chính quyền địa phương việc ông Quý, ông Chi và ông Tiện cùng các thành viên trong họ Phạm xây dựng nhà thờ trên đất của ông. Gia đình ông Yên và bà Hoa không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc gia đình ông bà đã có hành vi ngăn chặn dòng họ xây dựng các công trình trên đất tranh chấp, dẫn đến việc các thành viên trong họ Phạm đã xây dựng trong thời gian dài và đã hoàn chỉnh xong các công trình trên đất. Tại Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức cũng đã kết luận Gia đình bà NTH2 tố cáo dòng họ Phạm chiếm đất của gia đình bà để xây dựng nhà thờ họ là không có cơ sở. Việc xây dựng của dòng họ căn cứ trên thỏa thuận giữa gia đình bà do ông PVY1 với dòng họ Phạm. Đồng thời, tại phiên tòa ông Yên và bà Hoa cũng thừa nhận việc gia đình có đóng góp tiền cùng xây nhà thờ trên, thể hiện việc gia đình ông Yên, bà Hoa đã biết, đồng ý và cùng các thành viên khác trong họ Phạm xây dựng nhà thờ họ trên phần đất đang tranh chấp.
Tại Biên bản xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân xã Đức Giang và quá trình Tòa án xem xét thẩm định hiện trạng sử dụng phần đất có tranh chấp hiện nay cho thấy: Một trong các công trình xây dựng trên đất có tranh chấp là một ngôi nhà cấp 4 được xây dựng kiên cố theo kiểu dáng sử dụng vào mục đích tâm linh, bên trong có đầy đủ các vật dụng thờ cúng theo tâm linh của người Việt Nam, hiện nay các thành viên trong họ Phạm quản lý và sử dụng vào mục đích thờ cúng, hoàn toàn không có mục đích sử dụng cá nhân. Do vậy, để đảm bảo ổn định đời sống tâm linh của dòng họ Phạm tại thôn Lưu Xá, tránh lãng phí tài sản, ổn định trật tự trị an xã hội tại địa phương, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho các bị đơn cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn được tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất, tài sản gắn liền với phần đất có tranh chấp. Việc giao các tài sản này cho các bị đơn cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn không làm ảnh hưởng tới việc sử dụng diện tích đất còn lại của gia đình ông Yên, bà Hoa và bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho gia đình ông Yên và bà Hoa là có căn cứ.
- Tại Biên bản xem xét thẩm định tài sản ngày 01/8/2019:
+ Diện tích đất đang có tranh chấp hiện thuộc thửa 346, tờ bản đồ 05 tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang do các thành viên dòng họ Phạm ở thôn Lưu Xá đang quản lý, sử dụng là: 123,2m2.
+ Diện tích đất còn lại thuộc thửa 346, tờ bản đồ 05 tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang do hộ ông Yên và bà NTH2 đang quản lý sử dụng là: 236,8m2.
- Tại Biên bản định giá tài sản ngày 01/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản, tài sản các đương sự tranh chấp có giá trị như sau:
+ Quyền sử dụng thửa đất có tranh chấp có giá trị: 12.000.000đ/1m2 x 123,2m2 = 1.478.400.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu đồng).
+ Tài sản gắn liền với phần đất có tranh chấp có tổng giá trị: 510.638.000đ (năm trăm mười triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng).
Như vậy, diện tích đất có tranh chấp có giá trị là 1.478.400.000đ . Do đó, buộc ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn có trách nhiệm thanh toán trả gia đình ông Yên và bà Hoa số tiền 1.478.400.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu đồng) là phù hợp, cụ thể bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn gồm 302 người, mỗi người phải trách nhiệm thanh toán trả gia đình ông Yên bà Hoa số tiền là 4.895.364đ (bốn triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi tư đồng).
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
. Xét kháng cáo của ông ông Phạm Văn Thái về việc Tòa án không hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092141 do UBND huyện Hoài Đức cấp cho hộ ông PVY1 và bà NTH2, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Theo phần lập luận đã nêu ở phần trên thì trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 cho hộ ông PVY1 thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận là có căn cứ. Ông Thái kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được các tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của ông Thái đề nghị huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án không được chấp nhận.
Việc đề nghị Tòa án xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 do UBND huyện Hoài Đức cấp cho hộ ông PVY1 và bà NTH2 là không có cơ sở để được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, tuy nhiên có sửa chữa về câu chữ cách tuyên.
Về án phí:
- Yêu cầu của Ông PVY1 và bà NTH2 được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên phần giá trị thanh toán cho hộ ông Yên, bà Hoa theo quy định của pháp luật.
Ông PVQ3 phải chịu án phí về yêu cầu phản tố không được chấp nhận.
- Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông PVY1, bà NTH2 là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 26, Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 167, 215, 217, 220 và Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 158, 160, 163, 164, 166 và Điều 211 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 160 Luật Đất đai năm 2013; Điều 24 và Điều 27 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH 12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 26 và Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết.
Tuyên xử:
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông PVY1 và bà NTH2 về việc đòi quyền sử dụng đất đối với các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn.
Buộc ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (có danh sách kèm theo) phải thanh toán trả gia đình ông PVY1 và bà NTH2 số tiền giá trị quyền sử dụng đất diện tích 123,2m2 thuộc thửa 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là: 1.478.400.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Trong đó bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (tổng là 302 người), mỗi người phải trách nhiệm thanh toán trả gia đình ông Yên bà Hoa số tiền là 4.895.364đ (bốn triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi tư đồng).
- Ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn được quyền sở hữu nhà thờ và các công trình trên phần diện tích đất 123,2m2 thuộc thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (có sơ đồ kèm theo).
- Hộ ông PVY1 và bà NTH2 sử dụng phần diện tích đất còn lại 236,8m2 thuộc thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và tài sản gắn liền với đất (có sơ đồ kèm theo).
Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 do Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) cấp ngày 07/8/2006 cho hộ ông PVY1 và bà NTH2.
3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.
4. Về án phí:
- Ông PVY1 và bà NTH2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông PVY1 và bà Nguyễn Thị Hòa số tiền tạm ứng đã nộp là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000187 ngày 21/3/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn mỗi người phải chịu: 187.000 đồng (một trăm tám bẩy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông PVQ3 phải chịu án phí về yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 300.0000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông Quý đã nộp đủ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009307 ngày 05/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
+ Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông PVY1 và bà NTH2. Hoàn trả ông PVY1 và bà NTH2 số tiền tạm ứng đã nộp là 600.000 đ (sáu trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000035 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
+ Ông Phạm Văn Thái phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000038 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSNDTP Hà Nội; - TAND huyện Hoài Đức; - Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - Các đương sự; - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tiến Dũng |