vanban.org

Bản án 349/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 29/08/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/08/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông PVY1 và bà NTH2 về việc đòi quyền sử dụng đất đối với các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn. Buộc ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phạm Văn Y, Nguyễn Thị H-Phạm Văn Q, Phạm Văn C, Phạm Văn T"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 349/2022/DS-PT
Ngày: 29-8-2022.
V/v: Đòi quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Mai Tiến Dũng

Các thẩm phán:

Ông Trương Chí Anh

Ông Lê Thanh Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên Tòa án nhân

dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2021/TLPT-DS ngày 29/01/2021 về việc "Đòi quyền sử dụng đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 249/2022/QĐ-PT ngày 04/7/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông PVY1, sinh năm 1959; Có mặt.

Bà NTH2, sinh năm 1961; Có mặt.

Cùng trú tại: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Tp. Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hoa: Luật sư Đỗ Văn Minh, Văn phòng Luật sư Đỗ Minh. Địa chỉ: tầng 5 phòng 502, Nhà C4 (cầu thang 1), tập thể Thành Công, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông PVQ3, sinh năm 1964; ông PVC4, sinh năm 1942, ông PVT5, sinh năm 1945; Vắng mặt ông Quý, ông Chi, ông Tiện.

Cùng trú tại: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Tp. Hà Nội.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. Uỷ ban nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ: Thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Hồ Thị Na; chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoài Đức. Theo Giấy uỷ quyền số 176/GUQ-UBND ngày 15/7/2020; Vắng mặt.

3.2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn:

- Ông Phạm Văn Quảng, sinh năm 1932; anh Phạm Văn Hùng, sinh năm 1982; anh Phạm Văn Trung, sinh năm 1985; anh Phạm Văn Thực, sinh năm 1987; anh Phạm Văn Thắng, sinh năm 1992. Có mặt anh Hùng; anh Trung và bà Hoa.

- Người đại diện theo ủy quyền của anh Phạm Văn Trung, anh Phạm Văn Thực, anh Phạm Văn Hùng, anh Phạm Văn Thắng: Bà NTH2, sinh năm 1961; Trú tại: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội; Có mặt..

3.3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (có danh sách kèm theo): STT

Họ và tên

Năm

Địa chỉ

Ghi chú

sinh

Phạm Văn Khánh

1935 Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, 1.

huyện Hoài Đức, Hà Nội

Phạm Văn Khiêm

1961 như trên

2.

Phạm Văn Thanh

1977 như trên

3.

Phạm Văn Tùng

1985 như trên

4.

Cao Thị Oanh

1945 như trên

5.

Phạm Văn Đoài

1945 như trên

6.

Phạm Văn Vịnh

1936 như trên

7.

Phạm Văn Cường

1990 như trên

8.

Phạm Văn Minh

1975 như trên

9.

Phạm Văn Thu

1972 như trên

10.

Phạm Thị Thuý

1995 như trên

11.

Phạm Văn Phong

1963 như trên

12.

Nguyễn Thị Hồng

1962 như trên

13.

Phạm Văn Tâm

1971 như trên

14.

Phạm Văn Đức

1967 như trên

15.

Phạm Văn Nam

1987 như trên

16.

Phạm Văn Chương

1950 như trên

17.

Phạm Văn Đoàn

1975 như trên

18.

Phạm Thế Anh

1977 như trên

19.

Phạm Văn Khiêm

1954 như trên

20.

Nguyễn Thị Tý

1937 như trên

21.

Phạm Văn Định

1942 như trên

22.

Phạm Văn Dũng

1943 như trên

23.

Phạm Văn Thái

1974 như trên

24.

Phạm Tuấn Hà

1968 như trên

25.

Phạm Văn Dần

1962 như trên

26.

Phạm Văn Trọng

1971 như trên

27.

Phí Thị Nhung

1974 như trên

28.

Hoàng Thị Thứ

1945 như trên

29.

Phạm Văn Tuyên

1966 như trên

30.

Phạm Văn Huân

1941 như trên

31.

Nguyễn Thị Hưu

1931 như trên

32.

PVC4ến

1966 như trên

33.

Phạm Văn Đức

1994 như trên

34.

Phạm Văn Phả

1960 như trên

35.

Nguyễn Thị Tình

1936 như trên

36.

Phạm Văn Tường

1945 như trên

37.

Phạm Văn Thực

1977 như trên

38.

Phạm Văn Hưởng

1964 như trên

39.

Phạm Văn Thắng

1965 như trên

40.

Phạm Văn Thành

1966 như trên

41.

PVQ3

1959 như trên

42.

Phạm Văn Lương

1962 như trên

43.

Phạm Văn An

1963 như trên

44.

Phạm Văn Xương

1965 như trên

45.

Phạm Văn Tuấn

1972 như trên

46.

Phạm Văn Hữu

1960 như trên

47.

Phạm Văn Quang

1975 như trên

48.

Phạm Văn Tiến

1969 như trên

49.

Phạm Văn Hùng

1977 như trên

50.

Phạm Văn Tuấn

1975 như trên

51.

Phạm Văn Tráng

1994 như trên

52.

Phạm Văn Phép

1930 như trên

53.

Phạm Văn Trung

1974 như trên

54.

Phạm Văn Bằng

1967 như trên

55.

Phạm Văn Thức

1943 như trên

56.

Phạm Văn Chính

1968 như trên

57.

Phạm Văn Dũng

1941 như trên

58.

Phạm Văn Dậu

1957 như trên

59.

Phạm Văn Thưởng

1943 như trên

60.

Phạm Văn Vinh

1963 như trên

61.

Phạm Văn Phong

1940 như trên

62.

Phạm Anh Tú

1980 như trên

63.

Phạm Đức Toàn

1966 như trên

64.

Phạm Mạnh Hùng

1944 như trên

65.

Phạm Văn Dư

1979 như trên

66.

Phạm Văn Lực

1973 như trên

67.

Phạm Văn Quyền

1977 như trên

68.

Phạm Thị Hợi

1948 như trên

69.

Phạm Văn Giáp

1964 như trên

70.

Phạm Văn Giang

1985 như trên

71.

Phạm Văn Trường

1988 như trên

72.

Phạm Văn Thành

1992 như trên

73.

Phạm Thị Hợi

1922 như trên

74.

Phí Thị Thọ

1960 như trên

75.

Phạm Anh Tuấn

1986 như trên

76.

Phạm Thị Xuyên

1937 như trên

77.

Phạm Văn Tú

1987 như trên

78.

Hoàng Thị Tỵ

1953 như trên

79.

Nguyễn Thị Hồng

1962 như trên

80.

Phạm Văn Nhương

1912 như trên

81.

Phạm Văn Sơn

1984 như trên

82.

Phạm Văn Phương

1961 như trên

83.

Phạm Văn Đang

1934 như trên

84.

Nguyễn Thị Tấm

1935 như trên

85.

Phạm Văn Bi

1953 như trên

86.

Phạm Quỳnh Diên

1956 như trên

87.

Cao Thị Tình

1941 như trên

88.

Phạm Tuấn Việt

1988 như trên

89.

Phạm Hồng Quyền

1986 như trên

90.

Phạm Văn Khánh

1958 như trên

91.

Phạm Văn Thuấn

1990 như trên

92.

Phạm Văn Thành

1984 như trên

93.

Phạm Văn Hoàn

1987 như trên

94.

Phạm Văn An

1956 như trên

95.

Phan Thị Liên

1957 như trên

96.

Phạm Văn Bình

1982 như trên

97.

Cao Thị Hiền

1936 như trên

98.

Phạm Văn Tám

1976 như trên

99.

Phạm Văn Thuỷ

1962 như trên

100.

Phạm Văn Nam

1985 như trên

101.

Phạm Thị Hằng

1952 như trên

102.

Phạm Thị Lan

1948 như trên

103.

Phạm Minh Tuệ

1974 như trên

104.

Phạm Thị Muộn

1961 như trên

105.

Phạm Văn Đoàn

1954 như trên

106.

Phạm Văn Hà

1987 như trên

107.

Phạm Văn Trấn

1959 như trên

108.

Phạm Văn Đặng

1980 như trên

109.

Phạm Văn Ngọ

1930 như trên

110.

Phạm Thị Thìn

1940 như trên

111.

Phạm Văn Quân

1976 như trên

112.

Phạm Văn Sơn

1959 như trên

113.

Phạm Trung Kiên

1993 như trên

114.

Phạm Văn Biểu

1932 như trên

115.

Phạm Văn Thành

1972 như trên

116.

Phạm Văn Vinh

1964 như trên

117.

Phạm Văn Dĩnh

1947 như trên

118.

PVQ3

1963 như trên

119.

Phạm Văn Đan

1955 như trên

120.

Phạm Văn Đức

như trên 121.

Phạm Thế Hùng

1954 như trên

122.

Phạm Văn Quát

1943 như trên

123.

Phạm Văn Thiều

1960 như trên

124.

Phạm Văn Mạo

1937 như trên

125.

Phạm Văn Châu (năm)

1965 như trên

126.

Phạm Văn Ri

1942 như trên

127.

Phạm Văn Thọ

1993 như trên

128.

Phạm Thị Tâm

1943 như trên

129.

Phạm Văn Hùng

1978 như trên

130.

Phạm Văn Phương

1955 như trên

131.

Phạm Văn Trân

1965 như trên

132.

PVY1

1974 như trên

133.

Phạm Văn Lọi

1947 như trên

134.

Phạm Văn Thật

1989 như trên

135.

Phạm Văn Hinh

1965 như trên

136.

Phạm Văn Huynh

1968 như trên

137.

Phạm Văn Kiên

1990 như trên

138.

Phạm Văn Đỗ

1988 như trên

139.

Phạm Ngọc Tuấn

1982 như trên

140.

Phạm Trung Thành

1993 như trên

141.

Phạm Thanh Hà

1989 như trên

142.

Phạm Văn Sơn

1964 như trên

143.

Phạm Đức Thịnh

1970 như trên

144.

Phạm Đức Việt

1994 như trên

145.

Phạm Mạnh Dư

1979 như trên

146.

Phạm Văn Lực

1977

như trên 147.

Nguyễn Thị Nhỡ

1944

như trên 148.

Phạm Văn Điệp

1981

như trên 149.

Phạm Văn Sơn

1938

như trên 150.

Phạm Văn Hải

1961

như trên 151.

Phạm Văn Dũng

1985

như trên 152.

Phạm Văn Tựu

1930

như trên 153.

Phạm Văn Bính

1955

như trên 154.

Phạm Văn Lượng

1952

như trên 155.

Phạm Văn Lọi

1948

như trên 156.

Phạm Tuấn Anh

1985

như trên 157.

Phạm Hồng Quang

1965

như trên 158.

Phạm Văn Thành

1957

như trên 159.

Cao Văn Thắng

1956

như trên 160.

Cao Văn Thuỷ

1982

như trên 161.

Phạm Văn Đích

1971

như trên 162.

Phạm Mạnh Huống

1958

như trên 163.

Phạm Văn Quang

1971

như trên 164.

Phạm Văn Toàn

1976

như trên 165.

Phạm Tuấn Sửu

1949

như trên 166.

Phạm Văn Ba

1984

như trên 167.

Phạm Văn Nghĩa

1976

như trên 168.

Phạm Văn Hải

1965

như trên 169.

Phạm Văn Thuận

1990

như trên 170.

Phạm Văn Phong

1963

như trên 171.

Phạm Văn Tiệp

1945

như trên 172.

Nguyễn Thị Thanh Hoa

1991

như trên 173.

Phạm Thị Hảo

1993

như trên 174.

Phạm Văn Thuỳ

1988

như trên 175.

Phạm Văn Phát

1954

như trên 176.

PVQ3

1985

như trên 177.

Phạm Văn Đoan

1978

như trên 178.

Phạm Văn Thọ

1976

như trên 179.

Phạm Tuấn Hưởng

1976

như trên 180.

Phạm Hoàng Huấn

1973

như trên 181.

Phạm Thị Đảm

1964

như trên 182.

Phạm Văn Chuẩn

1968

như trên 183.

Phạm Văn Hướng

1976

như trên 184.

Phạm Văn Quynh

1990

như trên 185.

Phạm Văn Phấn

1987

như trên 186.

Phạm Văn Quyền

1988

như trên 187.

Phạm Văn Phong

1963

như trên 188.

Phạm Văn Trọng

1976

như trên 189.

Phạm Văn Được

1953

như trên 190.

Phạm Văn Thược

1954

như trên 191.

Phạm Văn Trường

1984

như trên 192.

Phạm Văn Thọ

1981

như trên 193.

Phạm Văn Thục

1992

như trên 194.

Phạm Văn Thọ

1973

như trên 195.

Phạm Văn Chỉ

như trên 196.

Phạm Văn Tùng

1991

như trên 197.

Phạm Văn Chính

như trên 198.

Phạm Văn Phương

1983

như trên 199.

Phạm Văn Đông

1976

như trên 200.

Phạm Văn Hùng

1941

như trên 201.

Phạm Văn Dũng

1972

như trên 202.

Phạm Văn Đệ

1971

như trên 203.

Phạm Văn Lê

1972

như trên 204.

Phạm Văn Hường

1994

như trên 205.

Trần Thị Ý

1958

như trên 206.

Phạm Văn Khương

1994

như trên 207.

Nguyễn Thị Ngư

1942

như trên 208.

Phạm Văn Phương

1955

như trên 209.

PVY1

1974

như trên 210.

Phạm Văn Phúc

1977

như trên 211.

Phạm Văn Ứng

1989

như trên 212.

Phạm Văn Đức

1980

như trên 213.

Phạm Văn Tý

1927

như trên 214.

Phạm Văn Khang

1972

như trên 215.

Phạm Văn Quang

1978

như trên 216.

Phạm Văn Lợi

1980

như trên 217.

Phạm Văn Phúc

1976

như trên 218.

Phạm Văn Hồng

1985

như trên 219.

Phạm Văn Thắng

1978

như trên 220.

Phạm Văn Huy

1990

như trên 221.

Phạm Văn Trọng

1985

như trên 222.

Phạm Văn Tiến

1987

như trên 223.

Phạm Văn Giang

1967

như trên 224.

Phạm Văn Hà

1972

như trên 225.

Phạm Văn Sâm

1968

như trên 226.

Phạm Văn Quế

1991

như trên 227.

Phí Thị Nhâm

1941

như trên 228.

Phạm Văn Tuyên

1973

như trên 229.

Phạm Thành Trung

1990

như trên 230.

Phạm Hồng Quân

1982

như trên 231.

Phạm Văn Toàn

1958

như trên 232.

Phạm Văn Thắng

1966

như trên 233.

Phạm Văn Tuấn

1969

như trên 234.

Phạm Văn Dũng

1981

như trên 235.

Phạm Văn Hà

1981

như trên 236.

Phạm Văn Hồng

1979

như trên 237.

Phạm Văn Hùng

1973

như trên 238.

Phạm Văn Hoà

1973

như trên 239.

Phạm Văn Trường

1918

như trên 240.

Phạm Thị Việt

1940

như trên 241.

Phạm Thị Trí

1940

như trên 242.

Phạm Văn Tuất

1982

như trên 243.

Phạm Văn Chung

1986

như trên 244.

Phạm Văn Long

1981

như trên 245.

Phạm Đức Tuấn

1964

như trên 246.

Phạm Văn Đông

1986

như trên 247.

Phạm Văn Bắc

1988

như trên 248.

Phạm Anh Tuấn

1979

như trên 249.

Phạm Văn Toàn

1983

như trên 250.

Phạm Văn Đức

1963

như trên 251.

Phạm Văn Mạnh Cường

1991

như trên 252.

Phạm Văn Mạnh Hùng

1988

như trên 253.

Phạm Văn Đức

1957

như trên 254.

Phạm Văn Đức

1968

như trên 255.

Phạm Văn Quyền

1981

như trên 256.

Phạm Văn Cường

1968

như trên 257.

Phạm Văn Được

1965

như trên 258.

Phạm Văn Kiên

1990

như trên 259.

Phạm Hà Dũng

1992

như trên 260.

Phạm Ngọc Tuấn

1971

như trên 261.

Phạm Văn Đạt

1931

như trên 262.

Phạm Đức Dũng

1980

như trên 263.

Phạm Văn Quang

1969

như trên 264.

Phạm Văn Hưng

1980

như trên 265.

Phạm Văn Hưởng

1986

như trên 266.

Phạm Văn Hùng

như trên 267.

Nguyễn Thị Thảo

1979

như trên 268.

Phạm Văn Phong

1986

như trên 269.

Phạm Văn Dư

1982

như trên 270.

Phạm Văn Hoa

1974

như trên 271.

Phạm Văn Hùng

1969

như trên 272.

Phạm Văn Hào

1981

như trên 273.

Phạm Văn Phúc

1958

như trên 274.

Phạm Văn Nam

1988

như trên 275.

Phạm Văn Kiên

1990

B7, Trung Hòa, Nhân Chính, 276.

Thanh Xuân, Hà Nội

Phạm Văn Kỷ

1959

như trên 277.

Phạm Văn Chư

1975

Lưu Xá, Đức Giang 278.

Phạm Văn Chính

1985

như trên 279.

Phạm Văn Châu

1984

như trên 280.

Phạm Văn Chuyên

1983

như trên 281.

Phạm Văn Mạnh

1994

như trên 282.

Phạm Mạnh Thắng

1975

như trên 283.

Phạm Mạnh Toàn

1976

như trên 284.

Cao Thị Thu

1968

như trên 285.

Nguyễn Thị Minh

1969

như trên 286.

Phạm Văn Đích

1979

như trên 287.

Phạm Văn Phong

1978

như trên 288.

Phạm Văn Thịnh

1959

như trên 289.

Phạm Văn Bính

1956

như trên 290.

Phạm Văn Đông

1974

như trên 291.

Phạm Thị Vi

1954

như trên 292.

Phạm Thị Huyên

1960

như trên 293.

Phạm Thị Nhuệ

1951

như trên 294.

Phạm Thị Miễn

1938

như trên 295.

Phạm Thị Thanh

1971

như trên 296.

Phạm Thị Liên

1959

như trên 297.

Phạm Văn Hướng

như trên 298.

Trịnh Thị Thảo

như trên 299.

Tại phiên tòa có mặt:

1. Ông Phạm Văn Chương, sinh năm 1950;

2. Ông Phạm Văn Thành, sinh năm 1957;

3. Ông Phạm Văn Đức, sinh năm 1968;

4. Ông Phạm Văn Tâm, sinh năm 1971;

5. Ông Phạm Đức Toàn, sinh năm 1966;

6. Ông Phạm Văn Tuấn, sinh năm 1972;

7. Ông Phạm Văn Phả, sinh năm 1960;

8. Ông Phạm Văn Khiêm, sinh năm 1961;

9. Ông Phạm Văn Hùng, sinh năm 1970;

10. Ông Phạm Văn Hinh, sinh năm 1966;

11.Bà Trịnh Thị Khanh, sinh năm 1962;

12. Bà Nguyễn Thị Miện, sinh năm 1963;

13. Ông Phạm Văn Hùng, sinh năm 1944;

14. Ông Phạm Văn Mạo, sinh năm 1936;

15. Ông Phạm Văn Cường, sinh năm 1945.

- Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn:

+ Ông Phạm Văn Đoàn, sinh năm 1954. Vắng mặt.

+ Ông Phạm Văn Dĩnh, sinh năm 1947. Vắng mặt.

+ Ông Phạm Văn Thái, sinh năm 1974. Có mặt.

+ Ông Phạm Văn Huân, sinh năm 1941. Có mặt.

+ Ông Phạm Văn Đoài, sinh năm 1945. Có mặt.

+ Ông Phạm Văn Bằng, sinh năm 1967. Có mặt.

+ Ông Phạm Văn Phương, sinh năm 1961. Có mặt.

Đều trú tại: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Tp. Hà Nội.

Do có kháng cáo của nguyên đơn là ông PVY1, bà NTH2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Thái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

- Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, các tài liệu khác cung cấp cho Tòa án, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, ông PVY1 và bà NTH2 là nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn trình bày:

Thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của cha ông của ông PVY1 để lại cho ông PVY1 và bà NTH2. Năm 2006, ông Yên và bà Hoa được UBND huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về thửa đất trên. Tháng 4/2008, ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 đứng lên tổ chức vận động những người trong họ Phạm đến khủng bố và ép buộc ông PVY1 viết giấy xác nhận đề ngày 10/4/2008 và ngày 21/4/2008 và ký kết vào nhiều văn bản do dòng họ Phạm với nội dung thừa nhận thửa đất tranh chấp có một phần diện tích đất của dòng họ Phạm và nhận sai sót khi tháo dỡ ngôi nhà từ đường (nhà thờ) của họ Phạm để xây dựng nhà ở mà không xin ý kiến của dòng họ Phạm.

Sau đó ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm đã chiếm đất và xây các công trình trên diện tích 120,1m2 của thửa đất, cụ thể: nhà thờ diện tích 70,5m2; lán tôn sát hộ bà Vi diện tích 27,3m2; sân trước nhà thờ (giáp đường đi) diện tích 16,8m2; khu phụ diện tích 5,5m2. Do gia đình bà không hiểu biết nên khi các thành viên trong dòng họ tiến hành xây dựng công trình trên đất, gia đình ông bà có đóng góp tiền xây dựng nhà thờ họ nhưng sau đó bị trả lại. Gia đình bà không gửi đơn thư, trình báo ngay với các cơ quan có thẩm quyền theo đúng trình tự thủ tục quy định của pháp luật để ngăn chặn việc xây dựng các công trình trái phép trên đất của gia đình bà, dẫn đến các công trình xây dựng đã hoàn thiện như hiện nay.

Nay gia đình ông bà yêu cầu ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm tháo dỡ nhà và trả lại đất cho ông bà.

Ông Yên và bà Hoa không chấp nhận bồi thường giá trị công trình trên đất cho ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm vì họ xây dựng công trình trái phép trên thửa đất của gia đình ông bà. Ông Yên và bà Hoa không yêu cầu ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm bồi thường thiệt hại về hành vi chiếm đất trái pháp luật.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn gồm: ông Phạm Văn Quảng, bà Cao Thị Thụ (đã chết), anh Phạm Văn Trung, anh Phạm Văn Thực, anh Phạm Văn Hùng, anh Phạm Văn Thắng có quan điểm như bên nguyên đơn và ủy quyền cho bà NTH2 giải quyết và quyết định mọi vấn đề có tranh chấp trong vụ án.

- Tại Biên bản ghi lời khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Quảng và bà Cao Thị Thụ cùng trình bày:

Thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có nguồn gốc của cha ông để lại cho gia đình ông bà theo phong tục địa phương là trưởng kế trưởng, nghĩa là các con trưởng của các đời sẽ được quản lý, sử dụng đất cha ông để lại. Tài sản các cụ để lại trên thửa đất gồm có một ngôi nhà ngói 05 gian, 01 giếng khơi, 02 gian bếp, 04 gian chuồng lợn và sân gạch chỉ.

Bố mẹ ông Quảng có một mình ông Quảng là con trai nên đương nhiên ông Quảng được quyền quản lý, sử dụng thửa đất trên và có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên của dòng họ.

Khi nhà nước có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Quảng và bà Thụ đồng ý cho ông Yên và bà Hoa được làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất trên. Năm 2006, ông Yên và bà Hoa được Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên.

Do nhà ngói lâu năm xuống cấp nên tháng 02/2008, gia đình ông có tháo dỡ toàn bộ nhà cũ và xây dựng nhà ngói cấp 4 như hiện nay. Đến tháng 4/2008 xảy ra tranh chấp giữa gia đình ông và một số thành viên trong họ Phạm mà đứng đầu là ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5. Nguyên nhân mâu thuẫn do các ông cho rằng đất gia đình ông đang ở là của dòng họ, việc xây dựng phải dưới sự cho phép của họ. Thời điểm này ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 hô hào các thành viên trong họ đến ép ông Yên viết giấy xác nhận với nội dung thừa nhận có một phần nhà đất trong thửa đất gia đình ông bà đang ở là của dòng họ. Dưới sự chỉ đạo của 3 ông, họ Phạm đã xây dựng xong các công trình trên đất mà không được sự đồng ý của gia đình ông

Vì điều kiện sức khỏe và ông bà ủy quyền cho ông PVY1 và bà NTH2 thay mặt ông bà giải quyết mọi vấn đề có liên quan trong vụ án tại Tòa án nhân dân các cấp.

- Tại Biên bản ghi lời khai, các đơn đề nghị nộp tại Tòa án, bị đơn là các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng trình bày:

Thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của dòng họ Phạm. Năm 2006, ông PVY1 lợi dụng là trưởng thôn đã tự ý làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Yên và bà Hoa thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội mà không được sự đồng ý của họ. Nay ông Yên, bà Hoa khởi kiện yêu cầu tháo dỡ công trình họ Phạm xây dựng trên đất để trả lại đất cho ông Yên và bà Hoa thì các ông không đồng ý và đề nghị Tòa án xem xét hủy việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Yên và bà Hoa.

Mặt khác, các ông cho rằng việc các ông đứng ra tổ chức xây dựng nhà thờ và các công trình khác trên đất có tranh chấp là do ban đầu có sự đồng ý của gia đình ông PVY1 (có giấy viết tay của ông PVY1), ông PVY1 lúc đó là trưởng họ cùng với Ban kiến thiết (do dòng họ lập ra) đã trực tiếp đi chọn gỗ và các vật liệu để xây dựng nhà thờ trên phần đất tranh chấp hiện nay. Mặt khác, gia đình ông Yên cũng đóng góp tiền để xây dựng nhà thờ họ như các gia đình khác trong họ Phạm.

Các ông là người được dòng họ Phạm cử làm trong Ban kiến thiết và xây dựng nhà thờ dòng họ Phạm trên một phần diện tích của thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Việc xây dựng nhà thờ là để dòng họ Phạm thôn Lưu Xá sử dụng vào việc thờ cúng tổ tiên chung cho cả dòng họ, không có quyền lợi riêng của cá nhân của ai, bản thân các ông không có mâu thuẫn gì với gia đình ông Yên, bà Hoa.

Nhà thờ hiện nay do cả dòng họ Phạm đang quản lý và sử dụng, không liên quan đến bất cứ cá nhân nào, vì vậy các ông không chấp nhận tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn trong vụ án này.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn đều có quan điểm đồng ý với quan điểm của các bị đơn và ủy quyền cho: Ông Phạm Văn Đoàn, sinh năm 1954; ông Phạm Văn Dĩnh, sinh năm 1947; ông Phạm Văn Thái, sinh năm 1974; ông Phạm Văn Huân, sinh năm 1941; ông Phạm Văn Đoài, sinh năm 1945; ông Phạm Văn Bằng, sinh năm 1967; ông Phạm Văn Phương, sinh năm 1961 (là những người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn trong vụ án) tham gia tố tụng tại Tòa án giải quyết mọi vấn đề có tranh chấp trong vụ án.

Ngoài các ý kiến đồng quan điểm với bị đơn, các đại diện cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn có thêm quan điểm là:

Khi dòng họ Phạm xây dựng nhà thờ vào năm 2008 trên một phần diện tích của thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội đã có sự đồng ý của ông PVY1 và cả gia đình. Ông Yên còn tham gia vào Ban kiến thiết xây nhà thờ, gia đình ông Yên còn đóng góp tiền xây dựng nhà thờ, cung cấp ranh giới đất cho các thành viên trong họ để xây dựng nhà thờ, bản thân ông Yên cùng với các thành viên trong họ Phạm đi chọn mẫu nhà thờ và chọn gỗ để làm nhà thờ.

Việc xây dựng nhà thờ là để dòng họ Phạm thôn Lưu Xá sử dụng vào việc thờ cúng tổ tiên, không có quyền lợi của cá nhân của ai, bản thân các ông không có mâu thuẫn gì với gia đình ông Yên, bà Hoa.

Nhà thờ hiện nay do cả dòng họ Phạm đang quản lý và sử dụng, không liên quan đến bất cứ cá nhân nào. Cả dòng họ thực hiện các nghi lễ thờ cúng tổ tiên thường xuyên trên nhà thờ mới này.

Tại phiên tòa, đại diện cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn yêu cầu Tòa án định giá lại tài sản tranh chấp vì đã quá 06 tháng kể từ khi định giá, giá các tài sản như nhà thờ và giá đất là thấp so với thị trường.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có quan điểm:

Tại Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức về việc trả lời nội dung đơn kiến nghị của dòng họ Phạm thôn Lưu Xá và đơn tố cáo của bà NTH2 và ông PVY1 kết luận:

Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 cho hộ ông PVY1 thực hiện đúng quy định của pháp luật. Việc dòng họ Phạm Văn, thôn Lưu Xá, xã Đức Giang đề nghị UBND huyện Hoài Đức thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 do UBND huyện Hoài Đức cấp cho hộ ông PVY1 và bà NTH2 là không có cơ sở để giải quyết.

Tại Công văn số 53/CV-TNMT ngày 10/6/2013, ông Hồ Trung Nghĩa là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện Hoài Đức có quan điểm: Giữ nguyên quan điểm tại Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức.

- Theo Biên bản xác minh tại UBND xã Đức Giang về quá trình quản lý, sử dụng thửa đất có tranh chấp như sau:

+ Theo Bản đồ lập năm 1939: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 1274, tờ bản đồ số 05. Do không có sổ mục kê đất nên không có thông tin về diện tích đất và tên chủ sử dụng đất;

+ Theo Bản đồ lập năm 1986 và Sổ mục kê đất năm 1986: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 84, tờ bản đồ số 03, diện tích 357m2, đứng tên chủ sử dụng là bà NTH2;

+ Theo Bản đồ lập năm 2005 và Sổ mục kê đất năm 2005: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 364, tờ bản đồ số 05, diện tích 358m2, đứng tên chủ sử dụng là ông PVY1.

Uỷ ban nhân dân xã Đức Giang lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất thửa đất nêu trên đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, không có ai khiếu nại hoặc thắc mắc gì.

Ngày 07/8/2006, hộ ông PVY1 và bà NTH2 được UBND huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD092142 cho hộ ông PVY1 và bà NTH2.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức đã quyết định:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông PVY1 và bà NTH2 về việc đòi quyền sử dụng đất đối với các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn.

Buộc ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (có danh sách kèm theo) phải thanh toán trả gia đình ông PVY1 và bà NTH2 số tiền giá trị quyền sử dụng đất diện tích 123,2m2 thuộc thửa 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là: 1.478.400.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Trong đó bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (tổng là 302 người), mỗi người phải trách nhiệm thanh toán trả gia đình ông Yên bà Hoa số tiền là 4.895.364đ (bốn triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi tư đồng).

- Giao ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn quyền sở hữu nhà thờ và các công trình trên phần diện tích đất 123,2m2 thuộc thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (có sơ đồ giao đất kèm theo).

- Giao hộ ông PVY1 và bà NTH2 sử dụng phần diện tích đất còn lại 236,8m2 thuộc thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và tài sản gắn liền với đất. (có sơ đồ giao đất kèm theo).

Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 do Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) cấp ngày 07/8/2006 cho hộ ông PVY1 và bà NTH2.

3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, ông Yên, bà Hoa và ông Thái đã nộp đơn kháng cáo.

* Theo đơn kháng cáo của nguyên đơn là ông PVY1 và bà NTH2 đề ngày 08/10/2020: kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức.

Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: sửa bản án sơ thẩm, trả lại quyền sử dụng toàn bộ thửa đất 364, tờ bản đồ 05, diện tích 360m2 tại thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội cho gia đình ông Yên, bà Hoa, các bị đơn và toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan di dời ngôi nhà mà họ đã xây dựng trên thửa đất của gia đình ông bà.

* Theo đơn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn Thái đề ngày 09/10/2020: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức.

Những vấn đề cụ thể trong đơn kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm: xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông, áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 308 BLTTDS 2015, tuyên huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Tại phiên tòa:

Các đương sự giữ nguyên các yêu cầu và trình bày của mình. Các đương sự không xuất trình tài liệu chứng cứ mới và không thỏa thuận với nhau để giải quyết vụ án.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biểu và đề nghị: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Yên và bà Hoa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Vì vậy, ông PVY1 và bà NTH2 được quyền sử dụng hợp pháp toàn bộ thửa đất hiện nay đang tranh chấp. Việc các bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là thành viên trong dòng họ Phạm xây dựng một ngôi nhà để thờ cúng trên một phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông Yên, bà Hoa mà không được phép của gia đình ông Yên bà Hoa là hành vi vi phạm pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Yên và bà Hoa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán và thư ký Tòa án tham gia phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Sau khi phân tích, đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị HĐXX: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:

. Về tố tụng: kháng cáo của ông PVY1, bà NTH2, ông Phạm Văn Thái đối với bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội trong thời hạn và đã thực hiện theo quy định của pháp luật là hợp pháp.

Tại phiên tòa, ông Yên và bà Hoa không ủy quyền cho ông Đỗ Đức Thiện. Ông Huân, ông Thái, ông Đoài, ông Thắng, ông Dậu không mời các luật sư Phạm Thanh Bình và luật sư Phạm Văn Ái bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các ông.

. Về nội dung:

. Xét kháng cáo của ông ông PVY1, bà NTH2, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Về nguồn gốc đất: Theo Bản đồ lập năm 1939: Thửa đất đang tranh chấp có số thửa là 1274, tờ bản đồ số 05. Do không có sổ mục kê đất nên không có thông tin về diện tích đất và tên chủ sử dụng đất; Theo Bản đồ lập năm 1986 và Sổ mục kê đất năm 1986: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 84, tờ bản đồ số 03, diện tích 357m2, đứng tên chủ sử dụng là bà NTH2; Theo Bản đồ lập năm 2005 và Sổ mục kê đất năm 2005: Thửa đất tranh chấp có số thửa là 364, tờ bản đồ số 05, diện tích 358m2, đứng tên chủ sử dụng là ông PVY1.

Tuy nhiên, theo lời khai của các đương sự, biên bản xác minh đều xác nhận ngôi nhà mà gia đình ông Yên đã tháo dỡ là của dòng họ Phạm, hàng năm vẫn thực hiện giỗ tết dòng họ tại đây. Tại Biên bản họp hòa giải (bút lục 583) ngày 31/10/2008 do UBND xã Đức Giang tiến hành họp hòa giải thì ông Yên đã thừa nhận “gia đình ông Yên xin bồi thường dòng họ theo luật định vì đã dỡ nhà thờ họ mà không xin phép dòng họ”. Tại đơn đề nghị ngày 21/4/2008 và Văn bản xác nhận của gia đình ông PVY1 đều thừa nhận: Đất này của dòng họ có 1 phần của gia đình; Nhà này của dòng họ có một phần đóng góp của gia đình. Mặc dù ông Yên và đại diện dòng họ xác định diện tích đất tranh chấp có một phần diện tích đất của dòng họ và một phần diện tích đất của gia đình ông Yên nhưng các bên không xuất tình được các chứng cứ cụ thể để xác định diện tích đất của dòng họ là bao nhiêu và của gia đình ông Yên là bao nhiêu và cụ thể ở vị trí nào.

Ngày 07/8/2006, hộ ông PVY1 và bà NTH2 được UBND huyện Hoài Đức cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD092142 về thửa đất nêu trên. Trong quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có việc niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, trong thời gian niêm yết công khai theo quy định, không có bất cứ ý kiến phản đối nào về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Yên, bà Hoa. Mặc dù các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn đều cư trú tại địa phương.

Mặt khác, khi các bên xảy ra tranh chấp, dòng họ Phạm đã có đơn đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Yên, bà Hoa. Tại Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức về việc trả lời nội dung đơn kiến nghị của dòng họ Phạm thôn Lưu Xá và đơn tố cáo của bà NTH2 và ông PVY1 đã kết luận về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 cho hộ ông PVY1 đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Sau khi nhận thông báo về việc giải quyết đơn kiến nghị về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Yên và bà Hoa, các thành viên trong dòng họ Phạm Văn không có khiếu nại hay khởi kiện vụ án Hành chính theo quy định của pháp luật, nên Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức đã có hiệu lực thi hành.

Do vậy, có đủ cơ sơ xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD092142 cấp cho hộ ông PVY1 và bà NTH2 là đúng trình tự thủ tục, quy định của pháp luật.

Nay ông Yên, bà Hoa khởi kiện đòi quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản là nhà thờ và các công trình xây dựng trên phần diện tích đất đang tranh chấp:

Khi ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn, tổ chức, tiến hành xây dựng các công trình trên diện tích đất hiện nay có tranh chấp thì ông PVY1 đã tự viết giấy và nhiều lần ký vào văn bản do họ Phạm lập với nội dung thừa nhận trong thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội có một phần diện tích đất của dòng họ Phạm. Các thành viên khác trong gia đình ông PVY1 không phản đối việc xây dựng ngôi nhà thờ này. Trên cơ sở các văn bản ông Yên viết và ký, ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng các thành viên trong họ Phạm đã tổ chức và tiến hành xây dựng các công trình trên đất tranh chấp như hiện nay. Ranh giới để xây dựng nhà thờ được ông Yên và gia đình xác định cho bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xây. Ông Yên và các thành viên trong gia đình ông Yên cho rằng gia đình ông bị các thành viên trong họ Phạm ép buộc ông phải viết giấy thừa nhận dòng họ có một phần đất trong thửa đất tranh chấp nhưng không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh ông Yên và gia đình ông Yên bị ép buộc và không có căn cứ thể hiện gia đình ông Yên có trình báo chính quyền địa phương việc ông Quý, ông Chi và ông Tiện cùng các thành viên trong họ Phạm xây dựng nhà thờ trên đất của ông. Gia đình ông Yên và bà Hoa không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc gia đình ông bà đã có hành vi ngăn chặn dòng họ xây dựng các công trình trên đất tranh chấp, dẫn đến việc các thành viên trong họ Phạm đã xây dựng trong thời gian dài và đã hoàn chỉnh xong các công trình trên đất. Tại Thông báo số 71/TB-UBND ngày 08/5/2012 của UBND huyện Hoài Đức cũng đã kết luận Gia đình bà NTH2 tố cáo dòng họ Phạm chiếm đất của gia đình bà để xây dựng nhà thờ họ là không có cơ sở. Việc xây dựng của dòng họ căn cứ trên thỏa thuận giữa gia đình bà do ông PVY1 với dòng họ Phạm. Đồng thời, tại phiên tòa ông Yên và bà Hoa cũng thừa nhận việc gia đình có đóng góp tiền cùng xây nhà thờ trên, thể hiện việc gia đình ông Yên, bà Hoa đã biết, đồng ý và cùng các thành viên khác trong họ Phạm xây dựng nhà thờ họ trên phần đất đang tranh chấp.

Tại Biên bản xác minh của Tòa án tại Ủy ban nhân dân xã Đức Giang và quá trình Tòa án xem xét thẩm định hiện trạng sử dụng phần đất có tranh chấp hiện nay cho thấy: Một trong các công trình xây dựng trên đất có tranh chấp là một ngôi nhà cấp 4 được xây dựng kiên cố theo kiểu dáng sử dụng vào mục đích tâm linh, bên trong có đầy đủ các vật dụng thờ cúng theo tâm linh của người Việt Nam, hiện nay các thành viên trong họ Phạm quản lý và sử dụng vào mục đích thờ cúng, hoàn toàn không có mục đích sử dụng cá nhân. Do vậy, để đảm bảo ổn định đời sống tâm linh của dòng họ Phạm tại thôn Lưu Xá, tránh lãng phí tài sản, ổn định trật tự trị an xã hội tại địa phương, Tòa án cấp sơ thẩm giao cho các bị đơn cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn được tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất, tài sản gắn liền với phần đất có tranh chấp. Việc giao các tài sản này cho các bị đơn cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn không làm ảnh hưởng tới việc sử dụng diện tích đất còn lại của gia đình ông Yên, bà Hoa và bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán giá trị quyền sử dụng đất cho gia đình ông Yên và bà Hoa là có căn cứ.

- Tại Biên bản xem xét thẩm định tài sản ngày 01/8/2019:

+ Diện tích đất đang có tranh chấp hiện thuộc thửa 346, tờ bản đồ 05 tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang do các thành viên dòng họ Phạm ở thôn Lưu Xá đang quản lý, sử dụng là: 123,2m2.

+ Diện tích đất còn lại thuộc thửa 346, tờ bản đồ 05 tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang do hộ ông Yên và bà NTH2 đang quản lý sử dụng là: 236,8m2.

- Tại Biên bản định giá tài sản ngày 01/8/2019 của Hội đồng định giá tài sản, tài sản các đương sự tranh chấp có giá trị như sau:

+ Quyền sử dụng thửa đất có tranh chấp có giá trị: 12.000.000đ/1m2 x 123,2m2 = 1.478.400.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu đồng).

+ Tài sản gắn liền với phần đất có tranh chấp có tổng giá trị: 510.638.000đ (năm trăm mười triệu sáu trăm ba mươi tám nghìn đồng).

Như vậy, diện tích đất có tranh chấp có giá trị là 1.478.400.000đ . Do đó, buộc ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn có trách nhiệm thanh toán trả gia đình ông Yên và bà Hoa số tiền 1.478.400.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu đồng) là phù hợp, cụ thể bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn gồm 302 người, mỗi người phải trách nhiệm thanh toán trả gia đình ông Yên bà Hoa số tiền là 4.895.364đ (bốn triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi tư đồng).

Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

. Xét kháng cáo của ông ông Phạm Văn Thái về việc Tòa án không hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092141 do UBND huyện Hoài Đức cấp cho hộ ông PVY1 và bà NTH2, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Theo phần lập luận đã nêu ở phần trên thì trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 cho hộ ông PVY1 thực hiện đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận là có căn cứ. Ông Thái kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được các tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của ông Thái đề nghị huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án không được chấp nhận.

Việc đề nghị Tòa án xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 do UBND huyện Hoài Đức cấp cho hộ ông PVY1 và bà NTH2 là không có cơ sở để được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, tuy nhiên có sửa chữa về câu chữ cách tuyên.

Về án phí:

- Yêu cầu của Ông PVY1 và bà NTH2 được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên phần giá trị thanh toán cho hộ ông Yên, bà Hoa theo quy định của pháp luật.

Ông PVQ3 phải chịu án phí về yêu cầu phản tố không được chấp nhận.

- Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên các đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Ông PVY1, bà NTH2 là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tại phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 26, Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 1 Điều 308, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 167, 215, 217, 220 và Điều 221 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 158, 160, 163, 164, 166 và Điều 211 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 50 Luật Đất đai năm 2003; Điều 160 Luật Đất đai năm 2013; Điều 24 và Điều 27 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/PL-UBTVQH 12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 26 và Điều 48 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết.

Tuyên xử:

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 112/2020/DS-ST ngày 26/9/2020 của Toà án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông PVY1 và bà NTH2 về việc đòi quyền sử dụng đất đối với các ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn.

Buộc ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (có danh sách kèm theo) phải thanh toán trả gia đình ông PVY1 và bà NTH2 số tiền giá trị quyền sử dụng đất diện tích 123,2m2 thuộc thửa 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là: 1.478.400.000đ (một tỷ bốn trăm bảy mươi tám triệu bốn trăm nghìn đồng). Trong đó bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn (tổng là 302 người), mỗi người phải trách nhiệm thanh toán trả gia đình ông Yên bà Hoa số tiền là 4.895.364đ (bốn triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn ba trăm sáu mươi tư đồng).

- Ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn được quyền sở hữu nhà thờ và các công trình trên phần diện tích đất 123,2m2 thuộc thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (có sơ đồ kèm theo).

- Hộ ông PVY1 và bà NTH2 sử dụng phần diện tích đất còn lại 236,8m2 thuộc thửa đất số 364, tờ bản đồ số 05, tại địa chỉ: Thôn Lưu Xá, xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội và tài sản gắn liền với đất (có sơ đồ kèm theo).

Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục điều chỉnh và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn về việc yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 092142 do Ủy ban nhân dân huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) cấp ngày 07/8/2006 cho hộ ông PVY1 và bà NTH2.

3. Bác các yêu cầu khác của các đương sự.

4. Về án phí:

- Ông PVY1 và bà NTH2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông PVY1 và bà Nguyễn Thị Hòa số tiền tạm ứng đã nộp là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000187 ngày 21/3/2013 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

- Ông PVQ3, ông PVC4 và ông PVT5 cùng toàn bộ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn mỗi người phải chịu: 187.000 đồng (một trăm tám bẩy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông PVQ3 phải chịu án phí về yêu cầu phản tố không được chấp nhận là 300.0000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông Quý đã nộp đủ tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009307 ngày 05/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

+ Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông PVY1 và bà NTH2. Hoàn trả ông PVY1 và bà NTH2 số tiền tạm ứng đã nộp là 600.000 đ (sáu trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000035 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

+ Ông Phạm Văn Thái phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000038 ngày 15/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ