vanban.org

Bản án 348/2020/DSPT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Tiền Giang Tuyên án 14/09/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn ông Phạm Phú T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 79/2019/DS-ST ngày 22/11/2019 của T a án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Từ Thiện X. Buộc bà Nguyễn Thị Đ và các thành viên trong hộ gồm ông Nguyễn Phú L, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Phú L1, bà Nguyễn Thanh D, anh Nguyễn Nhựt A, anh Nguyễn Trung K phải mở cho hộ ông Từ Thiện X (Thành viên trong hộ gồm: ông Từ Thiện X, bà Lê Thị N, anh … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 348/2020/DSPT Tuyên án 14/09/2020
Giám đốc thẩm Bản án 190/2023/DS-GĐT Tuyên án 28/08/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "ông X yêu cầu mở lối đi qua đất ông T và bà Đ"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn ông Phạm Phú T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 79/2019/DS-ST ngày 22/11/2019 của T a án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang
  • Căn cứ chính? Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 348/2020/DS-PT
Ngày: 14-9-2020
V/v tranh chấp “Yêu cầu mở lối
đi qua bất động sản liền kề”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.

Các Thẩm phán:

Ông Mai Hoàng Khải.

Bà Nguyễn Thị Ánh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tuyền, Th

T a án nhân dân tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa:- Ông Võ Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở T a án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công hai vụ án dân sự thụ l số 246/2020/TLPT-DS ngày 29/4/2020 về việc tranh chấp: “Yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 79/2019/DS-ST ngày 22/11/2019 của T a án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang bị háng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 338/2020/QĐ-PT ngày 25/05/2020 và thông báo về việc tiếp tục phiên t a số 189/TB-TA ngày 04/9/2020 giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Từ Thiện X, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền ông X: Chị Lê Thị Thu Th, sinh năm 1994 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.

Địa chỉ liên hệ: Tầng 10, T a nhà P, số 51, đ ờng N, Quận O, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật s Võ Thiện H – Công ty L – Đoàn luật s thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Phạm Phú T, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1941; Địa chỉ: Ấp Th, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Anh Nguyễn Phú L, sinh năm 1973 và chị Nguyễn Thanh D, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp Th, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật s Lê Hoàng A, Văn ph ng luật s Hoàng A-Đoàn luật s tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Phú L, sinh năm 1973;

2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1967;

3. Ông Nguyễn Phú L1, sinh năm 1971;

4. Bà Nguyễn Thanh D, sinh năm 1973;

5. Anh Nguyễn Nhựt A, sinh năm 1994;

6. Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 1997;

Cùng địa chỉ: ấp Th, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của S, L1, A, K: Anh Nguyễn Phú L, sinh năm 1973 và chị Nguyễn Thanh D, sinh năm 1973. Địa chỉ: ấp Th, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang (có mặt).

7. Bà Lê Thị N, sinh năm 1960;

8. Anh Từ Ph ớc H, sinh năm 1981;

9. Chị Từ Thị L2, sinh năm 1982;

10. Anh Từ Tứ Th, sinh năm 1987;

11. Anh Từ Thiện Th1, sinh năm 1989;

Cùng địa chỉ: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của N, H, L2, Th, Th1: Ông Từ Thiện X, sinh năm 1959; Địa chỉ: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)

12. Bà Phạm Thị D, sinh năm 1972 (vắng mặt).

13. Anh Phạm Phú T1, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Phạm Phú T; Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Phú L, Nguyễn Thanh D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo bản án sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Từ Thiện X có chị Lê Thị Thu Thủy trình bày:

Năm 2008, gia đình ông X có nhận chuyển nh ợng của ông Phạm Phú Th2 và bà Trần Thị L phần đất có diện tích 3.680 m2 tọa lạc ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang đã đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số thửa 166, tờ bản đồ số 9, diện tích 3.680 m2 do ông X đại diện hộ gia đình đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi nhận chuyển nh ợng ông Th2 và bà L có hứa sẽ cho ông X đi nhờ qua phần đất của ông bà Đ đi ra đ ờng công cộng.

Từ khi nhận chuyển nh ợng đất, gia đình ông X phải đi qua lối đi nội bộ của các gia đình ông Phạm Phú B, ông Th2, bà L và ông Phạm Phú T có chiều dài hơn 250m để đi ra đ ờng đất công cộng.

Khoảng năm 2014 con ông Th2, bà L là ông Th3 (đ ợc ông Th2, bà L cho đất) rào chắn ngang lối đi nội bộ của 02 gia đình làm cho ông X hông có lối đi ra đ ờng công cộng, từ đó gia đình ông X hông c n đ ờng bộ để đi vào thửa đất mà chỉ có thể sử dụng đ ờng thủy là rạch Tắc để vào đất và vận chuyển trái cây nên gây nhiều bất tiện, hó hăn trong việc canh tác và sử dụng thửa đất, nay ông X yêu cầu T a án giải quyết:

1. Buộc hộ gia đình bà Nguyễn Thị Đ phải mở cho gia đình ông X một lối đi có chiều ngang mỗi đầu 1,5m x chiều dài một cạnh là 60,41m và một cạnh là 60,19m. Tổng diện tích là 90,3 m2 là một phần của thửa đất số 165, tờ bản đồ số 09, diện tích 4.764 m2, tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang do bà Nguyễn Thị Đ đại diện hộ gia đình đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và buộc ông Phạm Phú T phải mở cho gia đình ông X một lối đi có chiều ngang mỗi đầu 1,5m x chiều dài một cạnh là 90,06m và một cạnh là 89,87m, tổng diện tích là 134,9 m2 là một phần của thửa đất số 123, tờ bản đồ số 09, diện tích 5.591,2m2, tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang do ông Phạm Phú T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Theo bản đồ địa chính hu đất trích đo ngày 05/7/2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện C) vì đây là lối đi gần nhất thuận tiện nhất vì ít phiền hà nhất để đi ra đ ờng công cộng.

2. Ông X và các thành viên trong hộ đồng với biên bản xem xét, thẩm định tại chổ và Biên bản định giá tài sản tranh chấp của Hội đồng định giá, bản đồ địa chính hu đất trích đo ngày 05/7/2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện C và đồng cùng liên đới bồi hoàn giá trị diện tích để mở lối đi và giá trị cây trồng trên đất lại cho gia đình bà Đ và ông T.

3. Nếu yêu cầu mở lối đi đ ợc chấp nhận ông X tự nguyện làm một hàng rào trụ đá (quy cách: 0,15m x 0,15m x cao 1,5m) khoảng cách giữa các trụ đá là 3m, gắn l ới B40 cao 2m, dài 150,06m, chạy dọc theo lối đi mở giáp ranh phần đất c n lại của bà Đ, ông T để bảo vệ tài sản đối với phần đất c n lại của bà Đ, ông T.

- Bị đơn ông Phạm Phú T trình bày:

Ông có thửa đất số 338, tờ bản đồ số 9, diện tích 5.591,2m2 tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Đối với yêu cầu của ông X ông hông đồng vì hiện tại ông X có lối đi hác, tr ớc đây ông Th3 có mở cho ông X lối đi nh ng ông X yêu cầu ông Th3 phải mở cho ông lối đi có chiều ngang 1,5m nên ông Th3 mới hông đồng . Gia đình ông tr ớc nay hông có liên quan gì đến lối đi của gia đình ông X, do ông X hông hỏi xin iến của ông tr ớc mà hởi kiện ra T a án nên hông đồng mở lối đi.

- Bị đơn Nguyễn Thị Đ ủy quyền cho anh Nguyễn Phú L và chị Nguyễn Thanh D trình bày:

Hộ gia đình bà Đ có thửa đất số 165, tờ bản đồ số 09, diện tích 4.764 m2, tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang do bà Nguyễn Thị Đ đại diện hộ gia đình đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với yêu cầu của ông X, bà Đ và các thành viên trong hộ hông đồng vì: nếu mở lối đi sẽ cắt ngang thửa đất gây thiệt hại quyền lợi của gia đình, gia đình bà Đ hông có liên quan gì đến lối đi của ông X. Tr ớc đây từ phần đất bà Đ muốn đi ra Rạch Tắc và ết hợp làm đ ờng dẫn thoát n ớc luôn bị ông X gây nhiều hó hăn nh đốn cây chắn ngang lối đi, bà Đ phải bỏ ra 52.000.000 đồng để mua bọng dẫn n ớc vào thửa đất, từ đó về sau gia đình bà Đ và ông X hông c n liên quan gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Phú L, Nguyễn Thị S, Nguyễn Phú L1, Nguyễn Thanh D, Nguyễn Nhựt A, Nguyễn Trung K ủy quyền cho anh Nguyễn Phú L và chị Nguyễn Thanh D trình bày: Thống nhất lời trình bày của bà Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị N, Từ Phước H, Từ Thị L, Từ Tứ Th, Từ Thiện Th1 ủy quyền cho ông Từ Thiện X trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ng ời đại diện.

- Bản án sơ thẩm số: 79/2019/DS-ST ngày 22/11/2019 của T a án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang áp dụng: Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, 3, 4 Điều 68, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 245, 254, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, Điều 95 Luật đất đai năm 2013, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Từ Thiện X.

1. Buộc hộ bà Nguyễn Thị Đ (Thành viên trong hộ gồm: bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Phú L, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Phú L1, bà Nguyễn Thanh D, anh Nguyễn Nhựt A, anh Nguyễn Trung K) phải mở cho hộ ông Từ Thiện X (Thành viên trong hộ gồm: ông Từ Thiện X, bà Lê Thị N, anh Từ Ph ớc H, chị Từ Thị L, anh Từ Tứ Th, anh Từ Thiện Th1) một lối đi có chiều ngang mỗi đầu 1,5m x chiều dài một cạnh là 60,41m và một cạnh dài 60,19m. Tổng diện tích là 90,3 m2 là một phần của thửa đất số 165, tờ bản đồ số 09, diện tích 4.764 m2 do bà Nguyễn Thị Đ đại diện hộ gia đình đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo bản đồ địa chính hu trích đo ngày 05/7/2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện C. Có tứ cận:

+ Đông: giáp đất Nguyễn Thị Đ;

+ Tây: giáp đất Trần Ngọc C;

+ Nam: giáp đất Từ Thiện X;

+ Bắc: giáp đất Phạm Phú T.

Ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật.

2. Buộc ông Phạm Phú T phải mở cho hộ ông Từ Thiện X một lối đi có chiều ngang mỗi đầu 1,5m x chiều dài một cạnh là 90,06m và một cạnh là 89,87m, Tổng diện tích là 134,9 m2 là một phần của thửa đất số 123, tờ bản đồ số 09, diện tích 5.591,2 m2 do ông Phạm Phú T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tọa lạc tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo bản đồ địa chính hu đất trích đo ngày 05/7/2016 của Chi nhánh Văn ph ng đăng đất đai huyện C. Có tứ cận:

+ Đông: giáp đất Phạm Phú T;

+ Tây: giáp đất Trần Văn Bé B;

+ Nam: giáp đất Nguyễn Thị Đ;

+ Bắc: giáp đ ớng đất, Rạch Tắc.

Ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật.

3. Ông Từ Thiện X có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục đăng đất đai theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013.

4. Giao cho hộ ông X toàn quyền quản l và sử dụng toàn bộ cây trồng trên đất gồm: 13 cây Nhãn loại A, 14 cây Nhãn loại C, 01 cây hế loại A và 14 bụi chuối loại A.

5. Ghi nhận ông X tự nguyện liên đới bồi th ờng cho hộ bà Đ số tiền là 29.330.000 đồng, ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật.

6. Ghi nhận hộ ông X tự nguyện liên đới bồi th ờng cho hộ ông T (thành viên trong hộ gồm ông T, bà Phạm Thị D, anh Phạm Phú T) số tiền 65.530.000 đồng ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật.

7. Ghi nhận hộ ông X tự nguyện làm 01 hàng rào trụ đá (quy cách: 0,15m x 0,15m x cao 1,5m) khoảng cách giữa các trụ đá là 3m, gắn l ớc B40 cao 2m x dài 150,06m chạy dọc theo lối đi đ ợc mở giáp ranh phần đất c n lại của bà Đ, ông T, ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày hộ bà Đ và hộ ông T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu hộ ông X chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì hàng tháng c n phải trả thêm một phần tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự t ơng ứng với số tiền và thời gian chậm thực hiện.

* Ngoài ra, án sơ thẩm c n tuyên về án phí, quyền háng cáo và nghĩa vụ thi hành án của các đ ơng sự theo quy định của pháp luật.

* Ngày 16/01/2020, ông Phạm Phú T, anh Nguyễn Phú L, chị Nguyễn Thanh D có đơn háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 79/2019/DS-ST ngày 22/11/2019 của T a án nhân dân huyện C, yêu cầu sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo h ớng hông chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Từ Thiện X.

Tại phiên t a phúc thẩm, ông Phạm Phú T, đại diện bà Nguyễn Thị Đ có anh Phạm Phú L và chị Nguyễn Thanh D giữ nguyên háng cáo, hông chấp nhận mở lối đi cho ông X nh án sơ thẩm đã tuyên.

Luật s Lê Hoàng Ân cho rằng phần đất của bị đơn T a sơ thẩm mở lối đi là hông hợp l , phần đất nêu trên phía bị đơn trồng cây lâu năm, lối đi ngang qua sẽ ảnh h ởng đến cây trái, ảnh h ởng nhiều đến lợi ích của họ, kể cả việc sử dụng nguồn n ớc để t ới tiêu. Từ đất của ông X nếu mở lối đi qua đất của bà Trần Thị Ngọc C và 01 chủ đất hác sẽ ra đ ợc lối đi công cộng, lối đi này sẽ thuận tiện hơn. Mặt hác Luật s A c n cho rằng Nhà n ớc đang có dự án là bờ è theo dọc sông Tiền, sau này ông X sẽ có lối đi tốt hơn, hông ảnh h ởng đến lợi ích của ng ời hác. Luật s đề nghị chấp nhận yêu cầu háng cáo của các bị đơn.

Luật s Võ Thiện H, ng ời bảo vệ phía nguyên đơn ông X cho rằng yêu cầu háng cáo của bà Nguyễn Thị Đ hông thể đ ợc chấp nhận, đơn háng cáo đề ngày 16/01/2020 của bà Đ đ ợc tên bởi ng ời hông có quyền đơn nên háng cáo hông hợp lệ. Đối với háng cáo của ông T, Luật s cho rằng lối đi qua đất ông T theo nh án sơ thẩm quyết định là lối đi ngắn nhất, thuận tiện nhất để ông X cùng các thành viên trong gia đình đi ra đến lối đi công cộng, hông ảnh h ởng đến nguồn n ớc tại con m ơng giáp ranh nh ông T trình bày. Nếu lối đi hông đ ợc mở ông X cùng gia đình hông thể đi ra lối đi công cộng bằng đ ờng bộ. Riêng đ ờng thủy qua rạch Tắc rất bất tiện, phụ thuộc vào thủy triều, hi n ớc r ng hông thể đi lại đ ợc. Nêu lối đi nh án sơ thẩm đ ợc mở, ông X sẽ bù đắp những ảnh h ởng về quyền lợi cho ông T. Luật s đề nghị hông chấp nhận háng cáo của ông T, giữ nguyên án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang xác định quá trình tố tụng cũng nh tại phiên t a Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo pháp luật quy định, đảm bảo đầy đủ quyền và nghĩa vụ của các đ ơng sự, Viện kiểm sát hông bổ sung gì thêm. Về nội dung, theo đại diện Viện kiểm sát phần đất của ông X hiện canh tác tr ớc đây nhận chuyển nh ợng của ông Th2, bà L là cha mẹ của các bị đơn, lối đi cũ tr ớc đây vẫn qua các hộ là con ông Th2, bà L. Theo xác định của cơ quan quản l hành chính về đất đai và T a án cấp sơ thẩm, lối đi đ ợc mở qua đất của ông T và bà Đ là lối đi ngắn nhất, thuận tiện nhất để ra đ ờng công cộng. Viện kiểm sát đề nghị hông chấp nhận háng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ết quả thẩm định tại chổ và qua tranh luận tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ vào đơn hởi kiện, lời trình bày của nguyên đơn cấp sơ thẩm T a án nhân dân huyện C thụ l , giải quyết vụ án với quan hệ tranh chấp: Yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề là có căn cứ.

Sau hi tuyên án sơ thẩm, hông đồng tình với kết quả ông Phạm Phú T háng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, ông T hông đồng mở lối đi cho ông X nh án sơ thẩm đã quyết định. Thời gian và thủ tục háng cáo phù hợp với pháp luật về tố tụng dân sự, vụ án đ ợc xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với háng cáo của Nguyễn Phú L và Nguyễn Thanh D, xác định anh L và chị D là đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ. Theo đơn háng cáo do anh L, chị D đứng tên và tên, nội dung hông đồng với phán quyết tại án sơ thẩm, hông chấp nhận mở lối đi cho ông X. Tuy nhiên theo các giấy ủy quyền ngày 09/11/2015 và 11/01/2016, bà Nguyễn Thị Đ cùng những ng ời có liên quan hác chỉ ủy quyền cho anh L và chị D tham gia và quyết tại phiên t a các cấp, hông có ủy quyền nội dung háng cáo. Do vậy háng cáo của anh L, chị D đứng tên, tên hông có trong văn bản cũng nh phạm vi ủy quyền. Do vậy háng cáo trên hông đ ợc xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét háng cáo của ông Phạm Phú T, về thực tế sử dụng đất cho thấy hộ gia đình ông X đ ợc giao quyền sử dụng phần đất có số thửa 166, tờ bản đồ số 9, diện tích 3.680m2. Nguồn gốc đất do ông nhận chuyển nh ợng của ông Phạm Phú Th2 và bà Trần Thị L. Đất của ông X nhận chuyển nh ợng là bãi bồi cặp sông Tiền. Kể từ khi nhận chuyển nh ợng đất, ông X và gia đình đi qua đất ông Th2 để ra lối đi công cộng. Theo văn bản tr ớc đây về việc giao kết chuyển nh ợng đất ông Th2, bà L cùng các con ông ể cả bà Đ có tên tạo điều kiện thuận tiện để ông X sử dụng đất. Khi đất đ ợc ông Th2 chia cho các con, lối đi của ông X và gia đình phải qua đất v ờn của Phạm Phú B giáp với Nguyễn Thị Đ, Phạm Phú Th3 và Phạm Phú T. Những ng ời này đều là con đ ợc ông Th2 chia đất.

Khoảng năm 2014 các ông B, Th3, Th2 cất nhà ở, trồng cây lâu năm rào chắn lối đi, ông X cùng gia đình hông c n lối đi nào hác ngoài việc phải chờ thủy triều lên để di chuyển ra bên ngoài bằng đ ờng thủy là rạch Tắc. Qua thẩm định đo đạc tại cấp sơ thẩm, cũng nh tại biên bản thẩm định ngày 04/9/2020 của T a án nhân dân tỉnh Tiền Giang. Qua đó xác định:

- Về lối đi cũ do ông X sử dụng tr ớc đây từ lối đi công cộng qua đất ông Phạm Phú T khoảng 40m, tiếp đến là đất ông Phạm Phú Th3 khoảng hơn 120m, ông Th3 có cất 01 ngôi nhà nếu đi phải qua hiên nhà ông Th3. Tiếp theo đất của ông Th3 là đất của ông Phạm Phú B giáp ranh với đất bà Nguyễn Thị Đ có chiều dài hoảng trên 40m. Toàn bộ lối đi là v ờn cây lâu năm, tán cành che phủ, bên d ới vun mô đắp gốc, theo đ ờng quanh co. Nói chung hông thể sử dụng làm lối đi đ ợc.

- Đối với lối đi theo ông T cho là thuận tiện hơn để ra đ ờng công cộng của gia đình ông X. Thực tế đ ợc xác định, từ đất của ông X qua đất của bà C, đến đất của 01 hộ hác có chiều dài trên 100m. Đây là v ờn cây lâu năm của hai hộ trên hông liên quan đến lối đi đang tranh chấp.

- Riêng đối với dự án bờ è chống sạt lỡ đoạn qua xã P chỉ khoảng 2.000m và hiện ch a xác định đ ợc vị trí, dự án này thực hiện trong 5 năm. Nh vậy hông có căn cứ cho rằng đất của ông X sẽ có bờ è đi ngang qua.

Phần đất của ông X đ ợc xác định là bị vây bọc bởi các bất động sản hác và rạch Tắc. Căn cứ vào khảo sát, thẩm định thực tế, căn cứ vào tính có liên quan theo hứa hẹn, cam kết khi chuyển nh ợng đất của gia đình ông Th2, bà L, lối đi đ ợc mở theo án sơ thẩm từ đất ông X đến đất bà Đ, tiếp theo đất của ông T đến đ ờng công cộng là lối đi ngắn nhất, thuận tiện nhất và ít thiệt hại nhất. Từ đó thấy rằng việc quyết định mở lối đi theo nh án sơ thẩm là hợp l , phù hợp với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử hông chấp nhận háng cáo của bị đơn ông Phạm Phú T.

Với thực tế và nhận định nh trên, xét lời trình bày và đề nghị của Luật s phía bị đơn là hông có căn cứ nên hông thể đ ợc chấp nhận. Riêng đề nghị của Luật s phía nguyên đơn cũng nh đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang là phù hợp với pháp luật, với thực tế và nhận định của Hội đồng xét xử nên đ ợc chấp nhận.

Đối với các vấn đề nh bồi th ờng thiệt hại về cây ăn trái, về giá trị sử dụng đất và việc tự nguyện rào chắn bảo vệ v ờn cây cho 02 hộ phải mở lối đi, đây là tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp với thẩm định giá, có lợi cho bị đơn mà án sơ thẩm quyết định là có căn cứ, đãm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên tham gia tố tụng nên hông cần phải xem xét lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận yêu cầu háng cáo của bị đơn ông Phạm Phú T, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 79/2019/DS-ST ngày 22/11/2019 của T a án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang

Căn cứ Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, 3, 4 Điều 68, Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 245, 254, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, Điều 95 Luật đất đai năm 2013, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày b30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Từ Thiện X.

1. Buộc bà Nguyễn Thị Đ và các thành viên trong hộ gồm ông Nguyễn Phú L, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Phú L1, bà Nguyễn Thanh D, anh Nguyễn Nhựt A, anh Nguyễn Trung K phải mở cho hộ ông Từ Thiện X (Thành viên trong hộ gồm: ông Từ Thiện X, bà Lê Thị N, anh Từ Ph ớc H, chị Từ Thị L, anh Từ Tứ Th, anh Từ Thiện Th1) một lối đi có chiều ngang mỗi đầu 1,5m x chiều dài một cạnh là 60,41m và một cạnh dài 60,19m. Tổng diện tích là 90,3 m2 là một phần của thửa đất số 165, tờ bản đồ số 09, diện tích 4.764m2 do bà Nguyễn Thị Đ đại diện hộ gia đình đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có tứ cận:

- Đông: giáp đất Nguyễn Thị Đ;

- Tây: giáp đất Trần Ngọc C;

- Nam: giáp đất Từ Thiện X;

- Bắc: giáp đất Phạm Phú T.

Ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật. (Có sơ đồ èm theo)

2. Buộc ông Phạm Phú T phải mở cho hộ ông Từ Thiện X một lối đi có chiều ngang mỗi đầu 1,5m x chiều dài một cạnh là 90,06m và một cạnh là 89,87m, Tổng diện tích là 134,9m2 là một phần của thửa đất số 123, tờ bản đồ số 09, diện tích 5.591,2 m2 do ông Phạm Phú T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất tại ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có tứ cận:

- Đông: giáp đất Phạm Phú T;

- Tây: giáp đất Trần Văn Bé B;

- Nam: giáp đất Nguyễn Thị Đ;

- Bắc: giáp đ ớng đất, Rạch Tắc.

Ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật. (Có sơ đồ èm theo)

3. Ông Từ Thiện X có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục đăng đất đai theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai năm 2013.

4. Giao cho hộ ông X toàn quyền quản l và sử dụng toàn bộ cây trồng trên đất gồm: 13 cây Nhãn loại A, 14 cây Nhãn loại C, 01 cây hế loại A và 14 bụi chuối loại A.

5. Ghi nhận ông X tự nguyện liên đới bồi th ờng cho hộ bà Đ số tiền là 29.330.000 đồng, ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật.

6. Ghi nhận hộ ông X tự nguyện liên đới bồi th ờng cho hộ ông T (thành viên trong hộ gồm ông T, bà Phạm Thị D, anh Phạm Phú T1) số tiền 65.530.000 đồng ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật.

7. Ghi nhận hộ ông X tự nguyện làm 01 hàng rào trụ đá (quy cách: 0,15m x 0,15m x cao 1,5m) khoảng cách giữa các trụ đá là 3m, gắn l ớc B40 cao 2m x dài 150,06m chạy dọc theo lối đi đ ợc mở giáp ranh phần đất c n lại của bà Đ, ông T, ngay sau hi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày hộ bà Đ và hộ ông T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu hộ ông X chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì hàng tháng c n phải trả thêm một phần tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự t ơng ứng với số tiền và thời gian chậm thực hiện.

8. Về án phí:

- Ông Phạm Phú T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, đ ợc trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 17496 ngày 16/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang nên c n phải nộp tiếp 300.000 đồng.

- Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn lại anh Nguyễn Phú L, chị Nguyễn Thanh D 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 17497 ngày 16/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Hộ ông Từ Thiện X phải chịu 4.743.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, đ ợc trừ 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 12893 ngày 27/10/2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang nên c n nộp tiếp 4.543.000 đồng.

9. Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ