vanban.org

Bản án 348/2017/HSST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 29/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 28/9/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Tuấn K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 348/2017/HSST
Ngày: 29-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyễn Ngọc Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân.

2. Ông Dƣơng Thanh Quý.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 365/2017/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2017, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 462/2017/HSST-QĐ ngày 13 tháng 12 năm 2017 đối với bị cáo:

Huỳnh Tuấn K, sinh năm 1994, tại tỉnh Vĩnh Long; thƣờng trú: Ấp N, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long; chỗ ở: Khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Mƣời H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 28/9/2017 cho đến nay. (Có mặt)

- Người làm chứng: Ông Lƣơng Đức T, sinh năm 1969. (Vắng mặt)

Thƣờng trú: Khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Huỳnh Tuấn K là đối tƣợng nghiện ma túy. K khai nhận vào ngày 25/9/2017, một ngƣời bạn của K tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà chơi và cho K 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, 01 gói ny lon chứa 02 viên nén màu xanh dƣơng, H nói với K đó là hàng khay và thuốc lắc, K cất số ma túy trên vào trong hộp thiếc đem để trong phòng. Khoảng 21 giờ ngày 27/9/2017, K điều khiển xe mô tô đi đến khu vực nhà thờ K thuộc phƣờng B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mua của ngƣời đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 1.000.000 đồng đƣợc 02 gói nylon chứa ma túy đá. Sau đó, K mang ma túy về nhà sử dụng một ít, số còn lại K cất trong hộp thiếc có chứa ma túy trƣớc đó. Đến khoảng 06 giờ ngày 28/9/2017, K gọi T đến nhà bán cho K 01 gói nylon chứa ma túy đá với giá 700.000 đồng, K mang số ma túy vừa mới mua đƣợc sử dụng một ít, số còn lại K cất vào trong hộp thiếc có chứa ma túy trƣớc đó. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phƣờng A tiến hành kiểm tra hành chính nhà của K, phát hiện có bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá trên tấm nệm trong phòng K nên thông báo Công an thị xã Dĩ An. Công an thị xã Dĩ An đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của K, thu giữ 01 hộp thiếc bên trong có chứa chất ma túy nên ra lệnh bắt khẩn cấp đối với Huỳnh Tuấn K.

Vật chứng thu giữ: 03 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, Huỳnh Tuấn K khai là ma túy đá; 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu xanh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Căn cứ Kết luận giám định số 449/MT-PC54 ngày 06/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

- Tinh thể màu trắng có trong 03 gói nylon ký hiệu M1, M2, M3 là ma túy, trọng lƣợng M1 là 0,2224 gam, M2 là 0,2322 gam, M3 là 0,1839 gam, loại Methamphetamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định của M1 là 0,1012 gam, M2 là 0,1849 gam, M3 là 0,1085 gam).

- Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon ký hiệu M4 là ma túy, trọng lƣợng 0,5125 gam, loại Ketamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định của M4 là 0,3359 gam).

- 02 viên nén màu xanh dƣơng ký hiệu M5 là ma túy, trọng lƣợng 0,6412 gam, loại MDMA (trọng lƣợng còn lại sau giám định của M5 là 0,3198 gam).

Ngày 07/10/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Huỳnh Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Đối với ngƣời đàn ông tên T đã bán ma túy cho Huỳnh Tuấn K, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đang tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số 353/QĐ – KSĐT ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Huỳnh Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nhƣ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 449/PC54 bên trong có chứa: Tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,3946g; Tinh thể màu trắng loại Ketamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,3359g; 02 viên nén màu xanh dƣơng loại MDMA, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,3198 gam và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên toà, ngƣời làm chứng Lƣơng Đức T vắng mặt. Căn cứ Điều 192 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ngƣời làm chứng.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tuấn K khai nhận: Vào ngày 25/9/2017, bạn của K tên H cho K 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng, 01 gói ny lon chứa 02 viên nén màu xanh dƣơng, K cất số ma túy trên vào trong hộp thiếc đem để trong phòng. Khoảng 21 giờ ngày 27/9/2017, K điều khiển xe mô tô đi đến khu vực nhà thờ K thuộc phƣờng B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh mua của ngƣời đàn ông tên T 1.000.000 đồng đƣợc 02 gói nylon chứa ma túy đá. Sau đó, K mang ma túy về nhà sử dụng một ít, số còn lại cất trong hộp thiếc. Đến khoảng 06 giờ ngày 28/9/2017, K gọi T đến nhà bán cho K 01 gói nylon chứa ma túy đá với giá 700.000 đồng, K sử dụng một ít, số còn lại cất vào hộp thiếc. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, công an tiến hành kiểm tra hành chính nhà của K phát hiện có bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 01 hộp thiếc bên trong có chứa chất ma túy nên ra lệnh bắt khẩn cấp đối với K.

Vật chứng thu giữ: 03 gói nylon chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng; 01 gói nylon chứa 02 viên nén màu xanh và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Căn cứ Kết luận giám định số 449/MT-PC54 ngày 06/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:

- Tinh thể màu trắng có trong 03 gói nylon ký hiệu M1, M2, M3 là ma túy, trọng lƣợng M1 là 0,2224 gam, M2 là 0,2322 gam, M3 là 0,1839 gam, loại Methamphetamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định của M1 là 0,1012 gam, M2 là 0,1849 gam, M3 là 0,1085 gam).

- Tinh thể màu trắng có trong 01 gói nylon ký hiệu M4 là ma túy, trọng lƣợng 0,5125 gam, loại Ketamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định của M4 là 0,3359 gam).

- 02 viên nén màu xanh dƣơng ký hiệu M5 là ma túy, trọng lƣợng 0,6412 gam, loại MDMA (trọng lƣợng còn lại sau giám định của M5 là 0,3198 gam).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định số 449/MT-PC54 ngày 06/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính, biên bản khám xét, lời khai của ngƣời làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Huỳnh Tuấn K đã vi phạm vào Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 353/QĐ – KSĐT ngày 24 tháng 11 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An truy tố Huỳnh Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình gây ra.

Tính chất, mức độ của hành vi:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (03 loại ma túy) là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma túy là tiền đề của tội phạm. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho ngƣời dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý mức án phù hợp nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự.

Do hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (03 loại ma túy) của bị cáo đƣợc thực hiện trong thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc công bố (ngày 03/7/2017) nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó khung hình phạt của tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù, nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, cần xem xét áp dụng khung hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hƣớng có lợi cho bị cáo.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và căn cứ khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14, Hội đồng xét xử áp dụng khung hình phạt theo hƣớng có lợi cho bị cáo theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mức hình phạt của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là chƣa áp dụng các quy định theo hƣớng có lợi cho bị cáo nên không có cơ sở chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 449/PC54 bên trong có chứa: Tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,3946g; Tinh thể màu trắng loại Ketamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,3359g; 02 viên nén màu xanh dƣơng loại MDMA, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,3198 gam và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015; điểm h, i khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tuấn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 28/9/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.

Tịch thu tiêu hủy: 0,3946g tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, 0,3359g tinh thể màu trắng loại Ketamine, 02 viên nén màu xanh dƣơng loại MDMA, trọng lƣợng 0,3198 gam, chứa trong bì thƣ đƣợc niêm phong số 449/PC54 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Vật chứng Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy nêu trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/11/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Huỳnh Tuấn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ