vanban.org

Bản án 347/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

TAND thành phố Hà Nội

VKSND quận Hà đông; THA quận Hà Đông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? TAND thành phố Hà Nội
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 347/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 20 tháng 5 năm 2025
V/v: Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:

Ông Trần Đình Văn

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Tô Thị Kim Dung

Bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà đông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Phương Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 05 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 753/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/11/2024 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 10/04/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 16/QĐHPT-HNGĐ-ST ngày 06/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Hồng S, sinh năm 1979; HKTT: phường V, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: tổ dân phố 3, phường V, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Xin vắng mặt

- Bị đơn: Anh Vũ Văn L, sinh năm 1978; HKTT: phường V, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: tổ dân phố 3, phường V, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án chị Vũ Thị Hồng S trình bày:

Chị và anh Vũ Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 20/12/2001 tại UBND phường V, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là phường V, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội).

Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống tại V. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 6 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh L hay chửi bới, lăng mạ chị. Đỉnh điểm là ngày 1/10/2024, anh L có hành vi đánh, tát và dọa giết chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2024. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên chị đề nghị tòa án giải quyết ly hôn với anh Vũ Văn L.

- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Vũ Vũ Việt L1 (nam), sinh ngày 24/4/2003; Vũ Vũ Diệu L2 (nữ), sinh ngày 14/4/2011; Vũ Vũ Tô L3 (nam), sinh ngày 03/9/2017. Con chung Vũ Vũ Việt L1 đã trưởng thành, ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Vũ Vũ Diệu L2, Vũ Vũ Tô L3 và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài các vấn đề trên chị S không yêu cầu Tòa án giải quyết về vấn đề gì khác. Quá trình giải quyết vụ án, anh Vũ Văn L vắng mặt và không có lời khai, không cung cấp tài liệu về quan điểm đối với yêu cầu xin ly hôn của chị S. Theo kết quả xác minh tại địa phương, chị Vũ Thị Hồng S và anh Vũ Văn L chung sống tại số nhà , ngách , ngõ , tổ dân phố, phường V, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Vợ chồng anh L chị S có mâu thuẫn xô xát, một lần anh L uống rượu đánh chị S. Chị S, anh L có 03 con chung là Vũ Vũ Việt L1, Vũ Vũ Diệu L2, Vũ Vũ Tô L3. Nay chị S xin ly hôn anh L, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa chị S xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên lời khai, yêu cầu xin ly hôn; anh L vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S đối với anh L. Về con chung: Chị S, anh L có 03 con chung là Vũ Vũ Việt L1 (nam), sinh ngày 24/4/2003; Vũ Vũ Diệu L2 (nữ), sinh ngày 14/4/2011; Vũ Vũ Tô L3 (nam), sinh ngày 03/9/2017. Con chung Vũ Vũ Việt L1 đã trưởng thành. Ghi nhận sự tự nguyện của chị S, giao chị S trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Vũ Diệu L2, Vũ Vũ Tô L3 kể từ khi ly hôn đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh L. Về tài sản chung, công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị S phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Phiên tòa được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, phiên tòa được tiến hành theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

2.Về nội dung:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Hồng S và anh Vũ Văn L kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn vào ngày 20/12/2001 tại UBND phường V, thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là phường V, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội). Hôn nhân của chị S và anh L là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, chung sống vợ chồng, chị S và anh L đã xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng xảy ra cãi vã, xô xát. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2024. Thời điểm chị S làm đơn ly hôn, anh L có ký đơn nhưng không đến Tòa án làm việc, không có lời khai trình bày quan điểm đối với yêu cầu xin ly hôn của chị S. Quá trình giải quyết vụ án chị S vẫn cương quyết xin ly hôn; anh L không có giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng, không thể hiện mong muốn đoàn tụ gia đình khi vắng mặt không tham gia thủ tục hòa giải tại tòa án. Xét thấy hôn nhân của chị S anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đich hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị S đối với anh L là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.

2.2 Về con chung: Chị S và anh L có 03 con chung là Vũ Vũ Việt L1 (nam), sinh ngày 24/4/2003; Vũ Vũ Diệu L2 (nữ), sinh ngày 14/4/2011; Vũ Vũ Tô L3 (nam), sinh ngày 03/9/2017. Con chung Vũ Vũ Việt L1 đã trưởng thành. Chị S xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Vũ Diệu L2, Vũ Vũ Tô L3; anh L không có quan điểm vể vấn đề nuôi con; nguyện vọng của các con chung cũng mong muốn được ở với mẹ nên cần ghi nhận. Chị S không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh L.

2.3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị S không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

3. Về án phí: Chị S phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông về hướng giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận. Từ nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Căn cứ Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Thị Hồng S đối với anh Vũ Văn L. Chị Vũ Thị Hồng S được ly hôn anh Vũ Văn L. 2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Vũ Thị Hồng S. Giao cho chị Vũ Thị Hồng S là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung Vũ Vũ Diệu L2 (nữ), sinh ngày 14/4/2011 và Vũ Vũ Tô L3 (nam), sinh ngày 03/9/2017 kể từ khi ly hôn đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh L. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. 3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị S không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. 4. Về án phí: Chị Vũ Thị Hồng S phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Vũ Thị Hồng S đã nộp 300.000đồng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0044402 ngày 01 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. 5. Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ