vanban.org

Bản án 347/2019/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 09/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I./Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Q;

II./Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 226/2018/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội; Tuyên bố: Hoàng Thị Q phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị Q - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I./Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Q;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 347/2019/HS-PT
Ngày: 09/05/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình T

Các Thẩm phán:

Ông Trần Nam Hà

Ông Nguyễn Văn Phổ

- Thư ký phiên tòa:

Ông Hoàng Nghĩa H - Cán bộ Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đình Đồng - Kiểm sát viên.

Ngày 09/005/2019 tại trụ sở Tòa án, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 229/2019/TLPT-HS ngày 08/04/2019 đối với bị cáo Hoàng Thị Q kháng cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 226/2019/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân Quận T, thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 278/2019/QĐXXPT-HS ngày 11 tháng 04 năm 2019 đối với:

Bị cáo

Hoàng Thị Q

sinh năm: 1980 tại Bắc Ninh

Nơi cư trú và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, thị trấn G,

huyện G, tỉnh B;

Nơi cư trú hiện nay (tạm trú): Khu thấp tầng Licogi 13 ngõ 164

Khuất Duy Tiến, phường Nhân Chính, quận T, thành phố Hà Nội;

Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc:

Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch:Việt Nam;

Con ông: Hoàng Đắc Lực (đã chết); Con bà: Hoàng Thị Ngũ;

Chồng: Nguyễn Đức Dũng (đã chết); Con: Nguyễn Thị Huyền (sinh

năm 1999), Nguyễn Đức Linh (sinh năm 2002), Nguyễn Đức Anh

(sinh năm 2004).

Tiền án tiền sự: không; danh chỉ bản số 322 do Công an quận T lập

ngày 17/08/2018

Bị cáo cấm bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/04/2018, Hoàng Thị Q đang bán số đề cho chị Nguyễn Thị Hương thì bị Cơ quan công an bắt quả tang.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Thị Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Q làm nghề bán hàng nước tại khu thấp tầng Licogi 13 Khuất Duy Tiến, phường Nhân Chính, quận T, thành phố Hà Nội. Quá trình bán nước có một người đàn ông tên Hà (khoảng 40 tuổi, không rõ tên tuổi địa chỉ) đến đặt vấn đề với Q về việc bán số lô đề cho Hà và sẽ được trả tiền hoa hồng. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Q đã đồng ý. Đối với số đề, lô xiên, ba càng Q khuyến mại cho khách cứ 10.000 đồng thì Q chỉ thu 9.000 đồng. Cứ mỗi 100.000 đồng bán số đề, lô xiên, ba càng Q được Hà trả 8.000 đồng tiền hoa hồng, còn mỗi điểm lô thường (22.500 đồng/1 điểm) Q được Hà trả 700 đồng tiền hoa hồng. Q bán số lô, số đề trực tiếp cho khách đến mua. Mỗi ngày Q bán được cho khoảng 7,8 khách vãng lai nên không biết tên tuổi, địa chỉ của những người khách này. Đến cuối ngày trước khi mở thưởng người đàn ông tên Hà sẽ đến gặp Q chụp lại bảng tổng hợp ghi số lô, số đề Q đã bán được trong ngày. Tiền khách trúng thưởng và tiền hoa hồng người đàn ông tên Hà trả cho Q vào 15 giờ ngày hôm sau, Q trực tiếp thanh toán nếu khách trúng thưởng.

Kết quả hình thức đánh bạc (mua bán số lô số đề) dựa trên kết quả của giải sổ xố kiến thiết miền Bắc, được mở thưởng vào các ngày trong tuần. Giải gồm 01 giải đặc biệt và 26 giải còn lại. Con số đề trúng khi con số đề trùng với 2 số cuối cùng của giải đặc biệt. Khách mua sẽ được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền bỏ ra mua con số đề đó. Con số lô thường trúng khi con số lô trùng với 2 số cuối của 1/27 giải, khách mua được hưởng số tiền tương ứng: 1 điểm lô tương đương 80.000 đồng. Lô xiên 2 trúng khi 2 con số lô trùng với 2 số cuối của 2/27 giải, khách chơi được hưởng số tiền gấp 10 lần số tiền khách mua bỏ ra mua con lô xiên đó. Lô xiên 3 trúng khi 3 con số lô trùng với 2 số cuối của 3/27 giải, khách chơi được hưởng số tiền gấp 40 lần số tiền khách mua bỏ ra mua con lô xiên đó. Lô xiên 4 trúng khi 4 con số lô trùng với 2 số cuối của 4/27 giải, khách chơi được hưởng số tiền gấp 100 lần số tiền khách mua bỏ ra mua con lô xiên đó. Nếu không trúng thì khách sẽ bị mất số tiền đã mua.

Q bắt đầu bán số lô đề cho khách từ ngày 14/04/2018 nhưng đến ngày 18/04/2018 thì Q nghỉ, thời gian này do mới bán số lô, đề nên mỗi ngày Q chỉ bán được 2.000.000 đồng tiền đến 3.000.000 đồng và được Hà trả khoảng 100.000 đồng tiền hoa hồng mỗi ngày, tổng cộng là 500.000 đồng. Các bảng tổng hợp số lô, đề từ ngày 14/04/2018 đến ngày 18/04/2018 Q đã hủy, hiện không thu hồi được. Đến ngày 24/04/2018 Q tiếp tục bán số lô, đề cho khách đến khi bắt quả tang, cụ thể:

Ngày 24/04/2018, Q bán số đề được 1.270.000 đồng, số lô xiên được 90.000 đồng, số ba càng được 60.000 đồng, tổng cộng 1.420.000 đồng nhưng do khuyến mại nên Q thu của khách 1.278.000 đồng. Số tiền Q bán số lô thường được 23.062.500 đồng (tương đương với 1025 điểm). Tổng số tiền trên bảng Q bán số lô, đề, lô xiên, ba càng cho khách mua là 24.482.500 đồng, số tiền thực tế Q thu của khách chơi là 24.340.500. Q được người đàn ông tên Hà trả 831.000 đồng tiền hoa hồng. Cơ quan điều tra tính dựa trên kết quả xổ số miền bắc cùng ngày: số tiền khách trúng số đề 700.000 đồng. Khách trúng lô thường là 20.800.000 đồng, số lô xiên và ba càng không có khách trúng. Tổng số tiền khách trúng là 21.500.000 đồng. Như vậy tổng số tiền Q đánh bạc trong ngày 24/04/2018 là 45.840.500 đồng, số tiền được hưởng lợi là 831.000 đồng.

Ngày 25/04/2018, Q bán số đề cho khách được 520.000 đồng, số lô xiên được 70.000 đồng, tổng cộng 590.000 đồng nhưng do khuyến mại nên Q thu của khách 531.000 đồng. Số tiền Q bán số lô thường được 16.312.500 đồng (tương đương 725 điểm). Tổng số tiền trên bảng Q đã bán số lô, đề, lô xiên cho khách mua là 16.902.500 đồng. Số tiền thực tế Q thu của khách chơi là 16.843.500 đồng. Q được người đàn ông tên Hà trả 555.000 đồng tiền hoa hồng. Cơ quan điều tra tính dựa trên kết quả xổ số miền bắc cùng ngày: số tiền khách trúng số đề là 1.400.000 đồng, khách trúng số lô thường là 8.800.000 đồng, số lô xiên không có khách trúng, tổng số tiền khách trúng là 10.200.000 đồng. Như vậy tổng số tiền Q đánh bạc trong ngày 25/4/2018 là 27.043.500 đồng, số tiền được hưởng lợi là 555.000 đồng.

Ngày 26/04/2018 Q bán số đề cho khách được 1.630.000 đồng, số lô xiên được 270.000 đồng, số ba càng được 130.000 đồng, tổng cộng 2.030.000 đồng nhưng do khuyến mại Q chỉ thu của khách 1.827.000 đồng. Số tiền Q bán số lô thường được 14.512.500 đồng (tương đương 645 điểm). Tổng số tiền trên bảng Q đã bán số lô, đề, lô xiên, ba càng cho khách là 16.542.500 đồng, số tiền thực tế Q thu của khách chơi là 16.339.500 đồng. Q được người đàn ông tên Hà trả 614.000 đồng tiền hoa hồng. Cơ quan điều tra tính dựa trên kết quả xổ số miền bắc cùng ngày: số tiền khách trúng số lô thường là 7.200.000 đồng, số đề, lô xiên, ba càng không có khách trúng. Tổng số tiền Q đánh bạc trong ngày 26/04/2018 là 23.539.500 đồng, số tiền được hưởng lợi là 614.000 đồng.

Trong ngày 27/04/2018 Q bán số đề cho khách được 870.000 đồng, số lô xiên được 150.000 đồng, số ba càng được 30.000 đồng, tổng cộng 1.050.000 đồng, do khuyến mãi nên Q chỉ thu của khách 945.000 đồng. Số tiền Q bán số lô thường được 11.700.000 đồng (tương đương 520 điểm). Tổng số tiền trong bảng Q bán số lô, đề, lô xiên, ba càng cho khách là 12.750.000 đồng, số tiền thực thế Q thu của khách chơi là 12.645.000 đồng. Do có một số khách mua nợ nên Q chỉ thu về 10.430.000 đồng. Tổng số tiền Q đánh bạc trong ngày 27/04/2018 là 12.645.000 đồng.

Tổng số tiền hưởng lợi Hoàng Thị Q được người đàn ông tên Hà trả trong thời gian ghi số lô, đề thuê là 2.500.000 đồng. Qúa trình điều tra, Q đã tự nguyện giao nộp số tiền này cho cơ quan điều tra.

Tại bản kết luận giám định số: 2380/C54-P5 ngày 29 tháng 6 năm 2018 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công An kết luận: Chữ viết, chữ số trên tờ tích kê và trên các bảng số lô, đề ngày 24/04/2018, 25/04/2018, 26/04/2018 và 27/04/2018 bị cơ quan công an thu giữ do chị Hoàng Thị Q viết ra.

Đối với người đàn ông tên Hà thuê Hoàng Thị Q bán số lô, đề, Q khai không biết tên thật và địa chỉ của Hà. Qúa trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với chị Nguyễn Thị Hương nhân thân chưa có tiền sự, có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề với tổng số tiền 50.000 đồng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, nên ngày 30/09/2018 Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền (theo khoản 1 điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013. Mức phạt 350.000đ).

Tại bản cáo trạng số 200/CT-VKS ngày 25.10.2018, Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố Hà Nội đã truy tố Hoàng Thị Q về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số:226/2018/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội đã xử bị cáo Hoàng Thị Q 18 tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý tang vật; án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 02/01/2019 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa:

Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, không thắc mắc kêu oan chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo do hoàn cảnh khó khăn, chồng chết hiện nuôi 3 con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về hình thức: Bị cáo nộp đơn kháng cáo trong thời hạn Luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận tội. Các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ đủ cơ sở khẳng định bị cáo phạm tội đánh bạc ở hành vi ngày 27/04/2018, đối với các hành vi của bị cáo thực hiện trong nhiều ngày với số lượng được thua trên 20.000.000đ ở các ngày 24, 25, 26/04/2018 thì lẽ ra phải truy tố xét xử bị cáo cả về tội tổ chức đánh bạc mới phù hợp hướng dẫn của Tòa án nhân dân Tối cao về đường lối giải quyết các vụ án đánh bạc, gá bạc. Tuy nhiên xét mức độ các hành vi phạm tội thì mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là thỏa đáng nên không cần thiết hủy án sơ thẩm để thay đổi tội danh. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, hoàn cảnh khó khăn nuôi mẹ già và 3 con nhỏ được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s điều 51; bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội từ 2 lần trở lên theo điểm g điều 52 Bộ luật Hình sự 2015. Không có tình tiết nào mới để xem xét giảm nhẹ như kháng cáo của bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức:

Đơn kháng cáo của bị cáo nộp trong thời hạn Luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận như nội dung bản án sơ thẩm đã xử và kháng cáo chỉ với nội dung xin được hưởng án treo.

Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, cũng như tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: bị cáo phạm tội đánh bạc với hành vi bán số đề vào ngày 27/04/2018 với số tiền tham gia đánh bạc là 12.645.000đ. Ngoài ra khi bắt giữ bị cáo về hành vi đánh bạc nêu trên còn thu giữ của bị cáo: bảng cáp ghi lô đề của ngày 27/04/2018 thì mặt sau của tờ giấy này có nội dung cáp lô đề của ngày 26/04/2018 và một tờ giấy có hai mặt một mặt thể hiện nội dung cáp lô đề ngày 25/04/2018 và một mặt thể hiện nội dung cáp lô đề ngày 24/04/2018 các nội dung này đều có cách ghi thể hiện nội dung tương tự như bảng cáp lô đề ngày 27/04/2018. Bị cáo khai nhận ngoài hành vi bán thuê lô đề ngày 27/04/2018 còn bán thuê lô đề vào các ngày 24,25,26/04/2018 như nội dung các bảng cáp đã thu. Cơ quan điều tra đã tính toán dựa trên cơ sở cách tính như bị cáo đã khai nhận và kết quả xổ số các ngày 24,25,26/04/2018 để xác định: số tiền bị cáo đánh bạc ngày 24 là 45.840.500đ bị cáo hưởng lợi 831.000đ; số tiền đánh bạc ngày 25 là 27.043.500đ bị cáo hưởng lợi 555.000đ; số tiền đánh bạc ngày 26 là 23.539.500đ số tiền được hưởng là 614.000đ. Như vậy với số tiền đanh bạc của các ngày 24,25,26/04/2018 đều trên 20.000.000đ có dấu hiệu của tội tổ chức đánh bạc. Tuy nhiên xét các vật chứng thu được là các bảng cáp lô đề và lời tự khai nhận của bị cáo thì nếu có cá biệt hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc thì mức án tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo cũng là phù hợp nên không cần hủy bản án để xác định tội danh như đề nghị của như quân điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp. Nhưng cũng cần nêu ra để cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm chung. Hành vi của bị cáo phạm vào khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Xét hành vi của bị cáo với việc bán số đề, lô xiên, ba càng cho khách mua, tuy rằng bị cáo khai chỉ bán thuê và được trả tiền hoa hồng là hành vi đánh bạc trái phép trực tiếp giữa bị cáo và người mua lô đề và đây là tệ nạn xã hội mà pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nên Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo và xử phạt tù là đúng người, đúng tội. bị cáo có tình tiết tăng nặng phạm tội từ 2 lần trở lên theo điểm g điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

Nhân thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s điều 51 Bộ luật Hình sự, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã xét xử là phù hợp, tuy nhiên, xét bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác định là hộ cận nghèo, trình độ hạn chế, chồng chết, hiện phải nuôi mẹ già và 3 con nhỏ việc phạt tù giam là không cần thiết vì sẽ gây thêm khó khăn cho gia đình và các con bị cáo nên hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết này vào khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự 2015 để cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định và thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự .

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

I./Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Q;

II./Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 226/2018/HS-ST ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội;

Tuyên bố: Hoàng Thị Q phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g điều 52 điều 65 Bộ luật Hình sự 2015.

Xử phạt: Hoàng Thị Q 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày Toà tuyên án là ngày 09/05/2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao Hoàng Thị Q cho UBND phường Nhân Chính, quận T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.

III./ Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

IV./ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

V./ Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 09/05/2019.

Cỡ chữ