- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị M - Đặng Văn C"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 346/2023/HNGĐ - ST Ngày 12 – 12 - 2023 V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Hữu San.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Thanh
2. Bà Đàm Thị Kim Duyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kỳ Khôi – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án thụ lý số 281/2023/TLST-HNGĐ, ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc Yêu cầu không công nhận vợ chồng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969.
Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn C, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
(Các đương sự đều có Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai và Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đặng Văn C được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 21/12/1990 (âm lịch) trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nhưng do nhận thức pháp luật hạn chế nên không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới hai người về chung sống tại thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai người ban đầu hạnh phúc. Nhưng đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng hai người vẫn không thể tìm được tiếng nói chung nên đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Nay bà xác định đã hết tình cảm với ông Đặng Văn C nên khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Đặng Văn C.
- Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông Đặng Văn C có 02 con chung là Đặng Văn O, sinh năm 1992 và Đặng Thị D, sinh năm 1996. Hiện tại cả hai con chung của bà và ông C đều đã đủ tuổi trưởng thành, đã xây dựng gia đình và có cuộc sống riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống bà và ông Đặng Văn C không có tài sản, đất đai chung; không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong Biên bản lấy lời khai và Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, bị đơn ông Đặng Văn C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Thị M được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 21/12/1990 (âm lịch) trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nhưng do nhận thức pháp luật hạn chế nên không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới hai người về chung sống tại thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai người ban đầu hạnh phúc. Nhưng đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau dẫn đến thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng hai người vẫn không thể tìm được tiếng nói chung nên đã sống ly thân từ khoảng năm 2018 đến nay không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Ông đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà M theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà Nguyễn Thị M có 02 con chung là Đặng Văn O, sinh năm 1992 và Đặng Thị D, sinh năm 1996. Hiện tại cả hai con chung của ông và bà M đều đã đủ tuổi trưởng thành, đã xây dựng gia đình và có cuộc sống riêng nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống ông và bà Nguyễn Thị M không có tài sản, đất đai chung; không có vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương, kết quả thể hiện: Bà Nguyễn Thị M và ông Đặng Văn C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1990 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới bà M và ông C cư trú và đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống ban đầu tình cảm hai người bình thường. Đến khoảng năm 2017 - 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nên xảy ra cãi vã, đánh chửi nhau. Chính quyền và bà con hàng xóm đã hòa giải nhiều lần nhưng hai người vẫn không tìm được tiếng nói chung. Hiện nay bà M và ông C đã sống ly thân mỗi người một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau. Quá trình chung sống bà M và ông C có 02 con chung là Đặng Văn O, sinh năm 1992 và Đặng Thị D, sinh năm 1996. Hiện tại các con của bà M và ông C đều đã đủ tuổi trưởng thành, đã xây dựng gia đình và có cuộc sống riêng. Bà M và ông C không có tài sản, đất đai, vay nợ chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.
Các đương sự thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 35/2000/NQ – QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và Gia đình; điểm đ khoản 1 Điều Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M:
+ Xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị M và ông Đặng Văn C.
+ Về con chung: Quá trình chung sống bà Nguyễn Thị M và ông Đặng Văn C có 02 con chung là Đặng Văn O, sinh năm 1992 và Đặng Thị D, sinh năm 1996. Hiện tại các con của bà M và ông C đều đã đủ tuổi trưởng thành, đã xây dựng gia đình và có cuộc sống riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Các đương sự đều xác định không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật nhưng đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí cho bà Mùi do là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị đơn ông Đặng Văn C không phải nộp tiền án phí.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Bà Nguyễn Thị M khởi kiện yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Đặng Văn C, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Đặng Văn C có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn N, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Do đó Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, do nguyên đơn và bị đơn đều có Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị M và ông Đặng Văn C chung sống như vợ chồng từ năm 1990 nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quá trình chung sống tình cảm giữa bà M và ông C ban đầu bình thường, sau đó dần phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau. Bà M xác định không còn tình cảm với ông C khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai người. Hội đồng xét xử thấy rằng mặc dù bà Nguyễn Thị M và ông Đặng Văn C chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1990 nhưng không làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị M và ông Đặng Văn C là phù hợp với quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 35/2000/NQ – QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị M và ông Đặng Văn C đều xác định có 02 con chung là Đặng Văn O, sinh năm 1992 và Đặng Thị D, sinh năm 1996. Hiện tại các con của bà M và ông C đều đã đủ tuổi trưởng thành, đã xây dựng gia đình và có cuộc sống riêng nên không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về tài sản, đất đai, vay chung: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm nhưng được miễn toàn bộ do là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Bị đơn ông Đặng Văn C không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 35/2000/NQ – QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về thi hành Luật hôn nhân và Gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị M và ông Đặng Văn C.
2. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị M. Bị đơn ông Đặng Văn C không phải nộp tiền án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Hàm Yên; - Chi cục THADS huyện Hàm Yên; - UBND xã M; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Hữu San |