- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? BLHS xử phạt: Lê TH 15 (mười lăm) tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2018.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 346/2018/ HSST Ngày 21 tháng 9 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quý My
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Vân;
2. Ông Trịnh Xuân Thiêm.
Thư ký phiên tò a : Bà Nguyễn Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Việt - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố
Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 331/2018/HSST ngày 08 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:
Lê TH, sinh ngày 14/10/1976
HKTT: Tổ A, phường TĐ, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo : Không; Trình độ văn hóa :
12/12; Nghề nghiệp: Không. Con ông: Lê Ngọc T, đã chết, con bà Vũ Thị Tm, sinh năm 1941; gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ 6 trong gia đình; vợ: Nguyễn Hồng Tg, sinh năm 1976, đã ly hôn , có 01 con sinh năm 2002. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
*Ngƣời chứng kiến:
Ông Vũ Quốc Tn, sinh năm 1962, vắng mặt
HKTT: Tổ H, phường V, thành phố TH, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 10 phút ngày 18/6/2018, tổ công tác của Công an phường Trưng
Vương, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tuần tra tại tổ S, phường V, thành phố TH, phát hiện một người đàn ông điều khiển xe đạp mini có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành truy đuổi đến khu vực tổ I, phường HV, thành phố TH thì dừng được xe của người đàn ông trên. Qua kiểm tra, người đàn ông tự khai tên là Lê TH, TH tự giác lấy từ trong túi quần bên trái đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng (TH khai là Heroine) giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với TH, niêm phong thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của TH 01 xe đạp mini màu bạc.
Cùng ngày, cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của TH có
khối lượng là 0,178 gam.
Tại bản Kết luận giám định số 804/KL-PC54 ngày 25/6/2018 của Phòng kỹ
thuật Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lê TH là chất ma túy loại Heroine có khối lượng 0,178 gam.
Tại Cơ quan điều tra Lê TH khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày
18/6/2018, TH đạp xe đạp từ nhà ở tổ A, phường TĐ, thành phố TH đi đến khu vực cầu B thuộc phường B, thành phố TH để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, TH gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng, TH cất gói Heroine vừa mua được vào túi quần trước bên trái đang mặc rồi đạp xe về nhà. Khi đi đến khu vực tổ I, phường HV, thành phố TH thì bị tổ công tác của Công an phường Trưng Vương phát hiện bắt quả tang như trên.
Tại bản cáo trạng số 328/CT-VKSTPTN ngày 06/8/2018, Viện Kiểm sát nhân
dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Lê TH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa bị cáo Lê TH khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình như lời
khai tại cơ quan điều tra và như bản cáo trạng đã mô tả.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên trình
bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê TH phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS
xử phạt Lê TH từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: xử lý theo quy định tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS-
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A2.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, Lời nói sau cùng bị cáo
đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
Căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cở sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra
Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm
tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Hồi 16 giờ 10 phút ngày 18/6/2018, tại khu vực tổ I, phường HV, thành phố TH, Lê TH có hành vi tàng trữ 0,178 gam Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên
truy tố bị cáo Lê TH về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy... thuộc một trong các trường
hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
…
c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho
xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, ma túy còn là hiểm họa cho xã hội, phát sinh các tệ nạn xã hội, làm khánh kiệt về kinh tế, suy kiệt giống nòi nhiều tội phạm cũng do ma túy gây nên, do đó Đảng và Nhà nước ta đã kiên quyết bài trừ tệ nạn này ra khỏi xã hội, bị cáo nhận thức rõ về điều đó nhưng vẫn phạm tội. Hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và ngăn ngừa tội phạm chung.
Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS.
Bị cáo không có tài sản riêng, là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm
ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu A2 cần tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy
định của pháp luật.
Mức án vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ nên được HĐXX chấp
nhận.
Đối với 01 chiếc xe đạp mini màu bạc, quá trình điều tra xác định là tài sản
thuộc sở hữu của bà Vũ Thị Tm (Sinh năm 1941, HKTT: Tổ A, phường TĐ, thành phố TH) là mẹ đẻ của Lê TH, bà Tm đã cho Lê TH mượn xe đạp, quá trình điều tra xác định khi mượn xe TH không nói nên bà Tm không biết TH mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà Tm. Hiện chiếc xe đã được trả lại cho bà Tm quản lý, sử dụng.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ Lê TH khai mua của một người đàn ông
không quen biết, do không xác định được lai lịch địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
BLHS xử phạt: Lê TH 15 (mười lăm) tháng tù giam về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2018.
- Căn cứ vào Điều 329 BLTTHS Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ
ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 BLHS đối với bị
cáo.
2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu A2.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 337 ngày
07/8/2018 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH
13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Công an thành phố Thái Nguyên; - THADS thành phố Thái Nguyên; - Trại tạm giam công an tỉnh TN; - Thi hành án hình sự; - Bị cáo; - Lưu HS,VP. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Quý My |