- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng thương mại cổ phần S, Võ Minh L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 345/2025/DS-ST Ngày: 08-05-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ôn Kim Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Đặng Văn Ẩn
2- Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 05 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 822/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 216/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 03 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 213/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 04 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở chính: Số 266-268 Lầu 8, Nam Kỳ Khởi N, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm: 1973. Chức danh: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Ông Lê Ngọc T, sinh năm: 1977. Chức vụ: Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S. (theo Giấy ủy quyền số: 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 do bà Nguyễn Đức Thạch D ký).
Người đại diện theo ủy quyền lại của ông Lê Ngọc T: Ông Trần Gia T, sinh năm: 1971. Chức vụ: Nhân viên Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và khai thác tài sản Ngân hàng S (theo Giấy ủy quyền số: 5538/2024/UQ-TGĐ ngày 02/08/2024). (Vắng mặt và nộp đơn yêu cầu vắng mặt)
Bị đơn: Ông Võ Minh L, sinh năm: 1988. (Vắng mặt)
Địa chỉ: 2527 (C1/3A) Quốc lộ A, Ấp X, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24 tháng 09 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn có ông Trần Gia T trình bày như sau:
Ngày 15/08/2022, Ông Võ Minh L có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 30,000,000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau:
Ngày ký hợp Lãi suất áp Loại thẻ
Số thẻ
Nợ gốc
đồng
dụng
Visa
472074 - 9502 30,000,000 15/08/2022
2.766%/tháng
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông L đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 31,000,000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7,500,000 đồng (chi tiết các lần thanh toán trong bảng sao kê tóm tắt đính kèm). Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Ông L vẫn không có thiện chí trả nợ. Do Ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), nên ngày 11/04/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 34,937,463 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).
Sau đó, vào tháng 06/2024 ông L thanh toán thêm vào thẻ tín dụng số tiền 4,000,000 đồng. Nên nợ gốc của ông L hiện còn lại là 30,937,463 đồng. (34,937,463 đồng - 4,000,000 đồng = 30,937,463 đồng)
Lãi quá
Loại thẻ
Số thẻ
Nợ gốc
Lãi suất áp dụng
hạn
Visa 472074 - 9502 30,937,463 32,058,936 4.149% (2.766% x 150%)
Nay Ngân hàng TMCP S đề nghị ông L phải trả số tiền còn thiếu tính đến ngày 08/05/2025 là 65,691.980 đồng, cụ thể như sau:
1. Buộc Ông Võ Minh L phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/05/2025 là 65,691.980 đồng (Sáu mươi lăm triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn, chín trăm tám mươi đồng) trong đó:
• Nợ gốc:
30,937,463 đồng
• Lãi quá hạn:
34,754.517 đồng
2. Và ông L có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/05/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại Hợp đồng.
Tại phiên tòa ông Trần Gia T vắng mặt và có nộp đơn xin vắng mặt.
Bị đơn – ông Võ Minh L đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh tống đạt tại địa chỉ: 2527 (C1/3A) Quốc lộ A, Ấp X, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh gồm các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đương sự; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Võ Minh L vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên tòa xét xử và không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình cũng như nộp các tài liệu chứng cứ khác đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa ông Võ Minh L vắng mặt không lý do.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng, đầy đủ quy định tại Điều 26, 48, 63, 68, 147, 210, 211, 220, 225, 227, 233, 239, 249, 254 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Qua tài liệu chứng cứ mà đương sự cung cấp cho Tòa án và các chứng cứ Tòa án thu thập thì có cơ sở xác định ông Võ Minh L có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/08/2022 với hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, ông L có kích hoạt thẻ sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân và có thanh toán thẻ. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn - ông Võ Minh L vắng mặt, không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Do đó, ông L phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ chứng minh được quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S. Về án phí: Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung:
Về quan hệ tranh chấp vụ án: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn là ông Võ Minh L, địa chỉ cư trú tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa đại diện uỷ quyền của nguyên đơn – ông Trần Gia T vắng mặt và có nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông Thế. Bị đơn - ông Võ Minh L vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định là Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về áp dụng pháp luật: Do hợp đồng dân sự của các bên đương sự thực hiện vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực nên Tòa án áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết vụ án.
Về các yêu cầu của các đương sự:
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bị đơn – ông Võ Minh L phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 08/05/2025 là 65,691.980 đồng (trong đó nợ gốc: 30,937,463 đồng, nợ lãi quá hạn: 34,754.517 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/05/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Theo kết quả xác minh ngày 01/7/2024 của Công an xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: “Tại địa bàn xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh không có địa chỉ C1/3A ấp X (ấp Y mới), xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh và không có người tên Võ Minh L cư ngụ tại ấp Y, xã B”. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng bị đơn đã ký với nguyên đơn có ghi địa chỉ cư trú tại 2527 (C1/3A) Quốc lộ A, Ấp X, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao quy định bị đơn theo địa chỉ ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản, nếu có thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc mới mà không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú, làm việc mới thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Toà án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung là đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 15/08/2022, số thẻ: 472074 - 9502 (loại thẻ Visa), hạn mức: 30.000.000 đồng, lãi suất áp dụng: 4.149%/tháng (2.766% x 150%), bị đơn đã thực hiện kích hoạt thẻ, giao dịch với số tiền tổng cộng là 31.000.000 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng 2 lần tổng số tiền 11.500.000 đồng thì ngưng. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ được quy định tại các điều khoản ghi trong hợp đồng nên ngày 11/04/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ số dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, tính đến ngày 08/05/2025 số tiền nợ là 65,691.980 đồng (trong đó nợ gốc: 30,937,463 đồng, nợ lãi quá hạn: 34,754.517 đồng).
Bị đơn không liên hệ nguyên đơn để thương lượng thỏa thuận giải quyết số nợ còn thiếu, kéo dài thời gian trả nợ, trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ. Tại phiên tòa bị đơn vắng mặt, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình coi như từ bỏ quyền trình bày của mình tại phiên tòa. Ngoài ra trong hợp đồng tín dụng bị đơn có ghi địa chỉ cư trú tại xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, nhưng kết quả xác minh của Công an xã Bình Chánh xác định không có tên bị đơn cư trú tại xã Bình Chánh và không có địa chỉ như bị đơn ghi trong hợp đồng tín dụng đã ký với nguyên đơn, việc bị đơn không cung cấp hay thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới, nơi làm việc mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ và trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ cho nguyên đơn được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao. Căn cứ Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền nợ tính đến ngày 08/05/2025 là 65,691.980 đồng (trong đó nợ gốc: 30,937,463 đồng, nợ lãi quá hạn: 34,754.517 đồng), ngoài ra bị đơn còn có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 09/05/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất qui định tại hợp đồng.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả số tiền tạm ứng án dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 40, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
- Buộc ông Võ Minh L trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 65,691.980 đồng (Sáu mươi lăm triệu, sáu trăm chín mươi mốt nghìn, chín trăm tám mươi đồng) (trong đó nợ gốc: 30,937,463 đồng, nợ lãi quá hạn: 34,754.517 đồng).
- Buộc ông Võ Minh L còn phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 09/05/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi quất qui định tại hợp đồng.
- Các đương sự có quyền thỏa thuận nơi thực hiện việc giao nhận tiền. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được thì thực hiện việc giao nhận tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí: Ông Võ Minh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.284.599 (Ba triệu, hai trăm tám mươi bốn nghìn, năm trăm chín mươi chín đồng).
Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng thương mại cổ phần S 1.335.303 đồng (Một triệu, ba trăm ba mươi lăm nghìn, ba trăm linh ba đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0042946 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kề từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự (6); - TAND TP.HCM (1); - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (2); - Chi Cục Thi hành án dân sự cùng cấp (1); - Lưu VP, hồ sơ vụ án (5). | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ôn Kim Chi |