- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thị Vân - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị V số tiền 40.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 345/2024/HS - ST Ngày 30 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thu Thúy và bà Trần Thị Tuyết .
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Sinh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Dương Trọng Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 308/2024/TLST - HS ngày 22/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 342/2024/QĐXXST - HS ngày 16/12/2024 đối với bị cáo:
Đoàn Thị V, tên gọi khác: không; sinh ngày 06/01/1983, tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: tổ A, khu B, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn U và bà Nguyễn Thị L; có chồng Đào Công T và 03 con; tiền sự, tiền án: không; nhân thân: Ngày 27/6/2008, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xử phạt 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 35 tháng 8 ngày, về tội “Tổ chức đánh bạc”. Ngày 12/01/2023 Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng, về hành vi bán số lô, số đề. Bị tạm giữ từ ngày 25/8/2024 đến ngày 03/9/2024 thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Lò Văn B, Cao Văn H, Phạm Thị H1.
- Người chứng kiến: Bùi Đức N, Lê Thị H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25 tháng 8 năm 2024, tại vỉa hè bên ngoài nhà số A đường H thuộc tổ I, khu C, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đoàn Thị V có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho Lò Văn B và Cao Văn H với tổng số tiền 5.950.000 đồng.
Hình thức đánh bạc dưới dạng số lô, số đề được quy ước như sau: mỗi số đề tương ứng 1.000 đồng, mỗi số lô tương ứng 23.000đồng. So sánh các số đã mua với kết quả xổ số kiến thiết miền B mở vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 25/8/2024. Tại kết quả trên có 27 giải, quy ước 2 số cuối của 27 giải gọi là "Lô", 2 số cuối của giải đặc biệt gọi là "Đề". Khi người mua số lô trúng giải, số tiền phải trả cho người trúng tương ứng với số điểm đã mua nhân với 80.000 đồng, trong trường hợp có một cặp số trúng nhưng lặp lại ở nhiều giải thì sẽ được nhân tiền tương ứng số lần lặp số. Khi người mua số đề trúng giải, số tiền phải trả cho người mua tương ứng với số điểm đã mua nhân với 80.000 đồng.
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 5.950.000 đồng; 04 tờ “phơ” (02 tờ gốc và 02 tờ in qua giấy than); 82 tờ “phơ” chưa viết; 10 tờ giấy in kết quả xổ số kiến thiết miền B từ ngày 15/8/2024 đến ngày 24/8/2024; 01 máy tính nhãn hiệu Casio; 01 bút bi xanh nhãn hiệu Thiên Long; 01 tờ giấy than; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.
Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Thị V khai nhận: Bị cáo bán nước chè và xổ số kiến thiết miền bắc tại vỉa hè nhà số A đường H, thuộc tổ I, khu C, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Do mục đích kiếm lời bị cáo đã nảy sinh ý định đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho Lò Văn B và Cao Văn H. Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 25/8/2024 Lò Văn B đến hỏi mua 04 số đề gồm các số 87, 88, 02, 20 mỗi số 50.000 đồng và 05 số lô gồm các số 02, 20, 00, 16, 61, mỗi số 30 điểm 23.000 đồng/01 điểm. Bị cáo ghi các số lô, số đề B mua vào 02 tờ giấy “phơ”, đưa 01 tờ phơ cho B làm căn cứ so sánh kết quả, bị cáo giữ 01 tờ phơ ; Biên trả cho bị cáo 3.650.000 đồng. Sau đó, Cao Văn H đến hỏi mua các số lô 86, 89 mỗi số 50 điểm tương ứng số tiền 2.300.000 đồng, bị cáo viết phơ cho H và H trả tiền cho bị cáo. Đến khoảng 17 giờ 30 phút, thì bị Công an phường B kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang bị cáo có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho Lò Văn B và Cao Văn H.
Những người làm chứng có lời khai xác nhận:
Lò Văn B đối tượng mua số lô, số đề của bị cáo V khai: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/8/2024 B đến quán của V để uống nước, B hỏi V có bán số đề không. V trả lời có. B thỏa thuận mua 04 số đề 87,88,02,20 mỗi số 50 điểm và 05 số lô các số 02,20,00,16, 61 mỗi số 30 điểm, tương ứng số tiền 3.650.000 đồng. V ghi các số lô, số đề vào tờ phơ gồm 02 liên. V đưa 01 tờ phơ gốc cho B giữ. B đưa cho V số tiền 3.650.000 đồng.
Cao Văn H là đối tượng mua số lô của bị cáo V khai: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/8/2024 H đến uống nước tại quán nước chè của V. H hỏi V mua số lô gồm các số 86, 89 mỗi số 50 điểm tương ứng với số tiền 2.300.000 đồng V ghi các số lô vào 02 tờ giấy phơ và đưa 01 tờ phơ cho H. Sáu đó H đưa cho V số tiền 2.300.000 đồng.
Phạm Thị H1 khai: Do có mối quan hệ , chị H1 cho Đoàn Thị V mượn địa điểm trước cửa nhà số A, tổ I, khu C, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để sử dụng bán nước và xổ số kiến thiết miền bắc. chị H1 không biết V sử dụng đia điểm để đánh bạc.
Người chứng kiến: anh Bùi Đức N và chị Lê Thị H2 có lời khai xác nhận:
Anh N khai: khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/8/2024 anh N đi cùng H đến quán nước của V, khi ngồi uống nước anh N thấy B ngồi uống nước từ trước. B hỏi V mua số lô, số đề. Sau đó H cũng mua số lô gồm các số 86, 89 mỗi số 50 điểm tương ứng với số tiền 2.300.000 đồng. V ghi các số lô vào 02 tờ phơ, đưa cho H 01 tờ. Sau khi V đưa tờ phơ cho H, H đưa cho V số tiền 2.300.000 đồng. Đúng lúc này Công an đến kiểm tra bắt quả tang V đáng bán số lô, số đề cho B và H.
Chị H2 khai: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/8/2024 chị được Công an phường B mời tham gia chứng kiến việc Công an bắt quả tang Đoàn Thị V bán số lô, số đề cho Lò Văn B và Cao Văn H.
Bản Cáo trạng số: 5568/CT-VKSHL ngày 18/11/2024 của Viện KSND thành phố H truy tố bị cáo Đoàn Thị V về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, đưa ra các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 35; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt tiền bị cáo Đoàn Thị V từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, về tội “Đánh bạc”.
Xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.950.000 đồng.
Tịch thu tiêu huỷ 01 máy tính Casio; 01 bút bi Thiên Long.
Những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án:
Đối với hành vi đánh bạc trái phép của Lò Văn B và Cao Văn H, số tiền dưới 5.000.000 đồng; B và H chưa có tiền sự, tiền án về loại tội này, nên không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra đề nghị Công an thành phố H xử phạt hành chính theo quy định.
Đối với bà Phạm Thị H1 cho V mượn địa điểm để bán nước, không biết V sử dụng địa điểm để đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề nên không đề cập xử lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên tòa bị cáo Đoàn Thị V thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, khẳng định việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám nghiệm hiện trường; sơ đồ hiện trương, bản ảnh hiện trường, bản luận tội Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Với những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25 tháng 8 năm 2024, tại vỉa hè bên ngoài nhà số A đường H thuộc tổ I, khu C, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đoàn Thị V có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho Lò Văn B và Cao Văn H với tổng số tiền 5.950.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống gia đình, công tác của cá nhân. Việc phát hiện và xử lí cũng như đấu tranh loại trừ tệ nạn này ra khỏi đời sống xã hội là việc làm hết sức khó khăn và phức tạp. Việc đánh bạc thường dẫn đến những tội phạm khác. Vì vậy, đấu tranh với tội phạm này là rất cần thiết. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng ý thức chấp hành pháp luật kém, muốn hưởng lợi mà không chịu lao động hợp pháp nên đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn dấu hiệu và đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự, có mức hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nội dung luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị xét xử đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội tổ chức đánh bạc và xử lý hành chính về hành vi bán số lô, số đề, nhưng đã được xóa án tích.
Tình tiết giảm nhẹ TNHS: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng đang bị bệnh, không có việc làm, bị cáo là lao động chính trong gia đình đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 và Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng TNHS: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào quy định Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo V mặc dù có nhân thân xấu, nhưng tại nơi cư trú luôn chấp hành đúng chính sách và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân; có 02 tình tiết giảm nhẹ TNHS, không có tình tiết tăng nặng TNHS; tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn đối với bị cáo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm; căn cứ Điều 35 của Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo cũng đảm bảo sự răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm và qua đó thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước đối với người phạm tội.
Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
01 chiếc điện thoại di động Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Số tiền 5.950.000 đồng do phạm tội mà có, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
01 chiếc máy tính nhãn hiệu Casio; 01 chiếc bút bi là công cụ, phương tiện phạm tội, tịch thu tiêu hủy.
04 tờ phơ ghi các con số; 82 tờ phơ chưa viết ; 10 tờ giấy in kết quả xổ số kiến thiết miền bắc ; 01 tờ giấy than là tài liệu, chứng cứ lưu hồ sơ vụ án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; khoản 1 và 3 Điều 35; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, điểm d khoản 1 Điều 125; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị V số tiền 40.000.000 đ (bốn mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” đối với bị cáo Đoàn Thị V. Theo Lệnh số: 252/2024/HSST - LCĐKNCT ngày 22/11/2024 và Quyết định số 333/QĐ - THXC ngày 22/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 5.950.000 đ (năm triệu chín trăm lăm mươi nghìn đồng) ;
Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) máy tính nhãn hiệu Casio; 01 (một) bút bi T. Tình trạng vật chứng được thi hành theo Biên bản giao nhận tài sản số 142/2024/BBBG - CQCSĐTCATPHL ngày 04/9/2024 giữa Công an thành phố H và Kho bạc Nhà nước tỉnh Q và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 59/BB - THA ngày 22/11/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục THA dân sự thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Đoàn Thị V phải chịu 200.000 đồng.
Quyền kháng cáo bản án: bị cáo Đoàn Thị V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện KSND thành phố Hạ Long, Viện KSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan điều tra, Cơ quan THA hình sự Công an thành phố Hạ Long; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THA dân sự thành phố Hạ Long; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Lưu Hồ sơ - Văn phòng. HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thu Thúy Trần Thị Tuyết | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Hiệp THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trọng Hiệp |