- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ X phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 345/2022/HSST Ngày 26 - 9 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Cần
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nhung
2. Ông Triệu Đức Tươi
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 284/2022/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 306/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ X; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1974
Nơi cư trú: Tổ X, phường TV, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Xuân S (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Mai C, sinh năm 1947; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính số 3940/QĐ/UB ngày 28/12/2002 của UBND tỉnh Thái Nguyên đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đỗ X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở giáo dục T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, với thời hạn 24 tháng (đã chấp hành xong ngày 02/11/2004).
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ/XPVPHC ngày 19/3/2012 của Công an phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên, đã xử phạt Đỗ X số tiền là 1.500.000đ về hành vi "Trộm cắp tài sản (X chưa nộp phạt, nhưng đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính)
- Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính số 1496/QĐ/UBND ngày 13/7/2012 của UBND tỉnh Thái Nguyên đã áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Đỗ X vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở giáo dục T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, với thời hạn 24 tháng (đã chấp hành xong ngày 24/7/2014).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/5/2022, tạm giam từ ngày 05/6/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người chứng kiến: Ông Bùi Công Đ, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ dân phố TH, phường ĐB, TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 27/5/2022, tổ công tác Công an phường ĐB, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, nên đã X hành kiểm tra. Qua kiểm tra đối tượng nam giới khai tên là Đỗ X, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Tổ X, phường TV, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đồng thời tự giác lấy từ lòng tay trái của X 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác, X khai nhận đó là ma túy Heroine, mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng rồi đưa X cùng các vật chứng thu giữ về cơ quan công an để giải quyết theo thẩm quyền.
Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 27/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng vât chứng nghi là ma túy thu giữ của Đỗ X xác định có khối lượng là 0,161 gam; rồi niêm phong trong phong bì ký hiệu A gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để tiến hành giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 750/KL-KTHS ngày 05/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận: “Mẫu chất bột mầu trắng trong phong bì ký hiệu A gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,161gam”.
Tại cơ quan điều tra Đỗ X đã khai nhận: Do bản thân X là đối tượng nghiện ma túy, nên khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 27/5/2022, X đi bộ từ nhà đến khu vực cầu GB, thuộc phường ĐB, thành phố Thái Nguyên với mục đích mua ma túy về để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến nơi X gặp và hỏi mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua xong, X cất giấu ma túy trên trong lòng bàn tay trái rồi đi về tìm nơi sử dụng. Khi X đi đến khu tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên thì bị Công an phường ĐB, thành phố Thái Nguyên bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 289/CT-VKSTPTN, ngày 20/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đỗ X về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, sau khi kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 289CT-VKSTPTN, ngày 20/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 21 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2022; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A bên trong còn lại 0,154 gam ma túy và 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và thành người có ích cho xã hội.
Người chứng kiến: Ông Bùi Công Đ trình bày: Khoảng 09 giờ 20, ngày 27/5/2022 ông D có việc đi qua khu vực cầu GB, thuộc tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên thì thấy có đông người tập trung, nên ông đã vào xem thì được Tổ công tác của Công an phường ĐB mời chứng kiến việc kiểm tra 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Quá trình kiểm tra người này khai tên là Đỗ X, sinh năm 1974, trú tại: Tổ X, phường TV, thành phố thái Nguyên đồng thời tự giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc mầu vàng, bên trong chứa chất bột mầu trắng, X khai là ma túy, loại Heroine do X mua về để sử dụng cho bản thân. Sau đó tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ các vật chứng trên và đưa X về cơ quan công an giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ X tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 27/5/2022, tại khu vực tổ dân phố GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên, Đỗ X đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,161 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số ma túy trên theo X khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu GB, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên với số tiền là 100.000đ
Hành vi tàng trữ trái phép 0,161 gam ma túy, loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân do Đỗ X thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, Bản cáo trạng số 289/VKSTPTN ngày 20/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Khoản 1 Điều 249 của BLHS quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:…
c) Heroine …..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội do bị cáo không chịu lao động, tu dưỡng nên đã mắc nghiện ma túy, để phục vụ cho nhu cầu bản thân, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
- Về nhân thân: Sinh ra và lớn lên tại: Tổ X, phường TV, thành phố Thái Nguyên; từ nhỏ được gia đình nuôi ăn học đến hết lớp 12/12, sau khi nghỉ học ở nhà. Do không chịu lao động tu dưỡng nên đã sớm mắc nghiện ma túy và đã nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản những vẫn không từ bỏ được ma túy – Bị cáo là người có nhân thân xấu.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình – Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là 0,161 gam, nên khi lượng hình, HĐXX giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt so với mức đề nghị của diện viện kiểm sát.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[7]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Liên quan đến vụ án này còn có đối tượng bán ma túy cho Đỗ X, tuy nhiên do X không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để điều tra làm rõ.
[8]. Về vật chứng vụ án:
Còn lại 01 phong bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 0,154 gam ma túy hoàn lại sau giám định và 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1, bên trong chứa vỏ bao gói mẫu - Xác định là vật cấm lưu thông, không còn giá trị sử dụng nên cần xử lý tịch thu tiêu hủy.
[9]. Về chi phí tố tụng: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10]. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Các Điều 329, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ X phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ X 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/5/2022
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A bên trong chứa 0,154 gam ma túy hoàn lại sau giám định và bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong chứa vỏ bao gói ban đầu.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 372 ngày 12/9/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đỗ X phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnhThái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS TP. Thái Nguyên; - UBND phường TV; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Văn Cần |