- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thu H ly hôn với ông Nguyễn Vũ A"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Vũ A.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 345/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 12 - 2022 “V/v: ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Vụ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Đổi;
Ông Nguyễn Chí Lin.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lệ Quân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia thụ lý số 1071/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 395/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: ấp 1, xã Phạm Văn H, huyện A, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: ông Nguyễn Vũ A, sinh năm 1991.
Địa chỉ: khu vực 4, thị trấn Đức H, huyện C, tỉnh Long An.
(Nguyên đơn vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/9/2022 nguyên đơn bà Lê Thị Thu H trình bày và yêu cầu:
Bà và ông Nguyễn Vũ A cưới nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 15/3/2018. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà và ông Vũ A đã ly thân từ tháng 5 năm 2021 cho đến nay.
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Vũ A.
Về nuôi con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 15/5/2013 và Nguyễn Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 29/7/2018 hiện đang sống với bà Hằng, khi ly hôn bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông An cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Nguyễn Vũ A được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông An không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Lê Thị Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Vũ A hiện đang cư trú tại: khu vực 4, thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Bà Lê Thị Thu H và ông Nguyễn Vũ A chung sống có đăng ký kết hôn ngày 15/3/2018 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông A là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.
Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông A được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng ông A không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
Về con chung: Xét bà H và ông Vũ A có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 15/5/2013 và Nguyễn Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 29/7/2018 hiện đang sống với bà H, khi ly hôn bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Vũ A cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 107 và 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận.
Xét về tài sản chung và nợ chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác là phù hợp.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy: bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bà Hà đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về hôn nhân: bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Vũ A.
Về nuôi con chung: bà Lê Thị Thu H được quyền trực tiếp nuôi con chung tên 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Gia Hân, sinh ngày 15/5/2013 và Nguyễn Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 29/7/2018 hiện đang sống với bà H. Ông Nguyễn Vũ A không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về chia tài sản chung, nơ chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu nên không đề cập giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0007092 ngày 27/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa). Bà Hằng đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Long An; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa; - CC. THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - UBND thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa (để ghi sổ hộ tịch) - Lưu: hồ sơ vụ án, án văn. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Vụ |