vanban.org

Bản án 344/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: bà Ngô Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Ph.

Về nuôi con chung: bà Ngô Thị H được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Như Ý, sinh ngày 08/12/2016 hiện đang sống với bà Hà. Ông Nguyễn Thanh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Ha ly hôn với ông NGuyễn Thanh Ph"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: bà Ngô Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 344/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30 - 12 - 2022
“V/v: ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Vụ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Đổi;

Ông Nguyễn Chí Lin.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lệ Quân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia thụ lý số 991/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Ngô Thị H, sinh năm 1994.

Địa chỉ: ấp M 2, xã Mỹ Hạnh N, huyện A, tỉnh Long An.

- Bị đơn: ông Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1975.

Địa chỉ thường trú: ấp Ch, xã Nhơn Ph, huyện B, tỉnh Vĩnh Long.

Địa chỉ tạm trú: ấp M 2, xã Mỹ Hạnh N, huyện A, tỉnh Long An.

(Nguyên đơn vắng mặt có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/8/2022 nguyên đơn bà Ngô Thị H trình bày và yêu cầu:

Bà và ông Nguyễn Thanh Ph cưới nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An ngày 04/3/2016. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được.

Về hôn nhân: Bà Ngô Thị H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thanh Ph.

Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Như Ý, sinh ngày 08/12/2016 hiện đang sống với bà H, khi ly hôn bà Hà yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Nguyễn Thanh Ph được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông Phong không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Ngô Thu H khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Thanh Ph hiện đang cư trú tại: ấp Mới 2, xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà Ngô Thị H và ông Nguyễn Thanh Ph chung sống có đăng ký kết hôn ngày 04/3/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hạnh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà Hà và ông Phong là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Trong thời gian Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn ông Ph được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án, nhưng ông Ph không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà H theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Về con chung: Xét bà H và ông Ph có 01 con chung tên Nguyễn Như Ý, sinh ngày 08/12/2016 hiện đang sống với bà H, khi ly hôn bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Ph cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 107 và 110 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

Xét về tài sản chung và nợ chung: bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết..

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy: bà H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bà Hà đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 147 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về hôn nhân: bà Ngô Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Ph.

Về nuôi con chung: bà Ngô Thị H được quyền trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Như Ý, sinh ngày 08/12/2016 hiện đang sống với bà Hà. Ông Nguyễn Thanh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản chung, nơ chung: bà Hà trình bày không có, không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Ngô Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0000309 ngày 14/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa). Bà Hà đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ