- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cụ thể:
- Căn cứ chính? Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 342/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-12-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Huy Du
Bà Nguyễn Thị Luyến
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Ngày 19 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 316/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: Xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi tạm trú: Thôn 8, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Bị đơn: Anh K J I, sinh năm 1961; địa chỉ: 34-12 Bangbaecheon-ro8gil, Seocho-gu Seoul-si, Hàn Quốc.
Chị Nguyễn Thị H và anh K J I đều vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh K J I kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/7/2023. Sau khi kết hôn, anh K J I quay về Hàn Quốc, chị H ở lại Việt Nam. Thực tế anh chị không có thời gian sống chung sau khi kết hôn, chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại. Thời gian sống ly thân, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, tính cách, ngôn ngữ, không còn liên lạc. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, chị H và anh K J I thống nhất ly hôn và đề nghị Tòa án thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh K J I.
Về con chung: Anh K J I và chị H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh K J I và chị H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Đơn xin ly hôn, Đơn xin xét xử vắng mặt (đã được hợp pháp hóa lãnh sự), bị đơn là anh K J I trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Anh K J I và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/7/2023. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc trong một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp về tính cách, bất đồng ngôn ngữ nên sau này chung sống sẽ không có hạnh phúc. Anh K J I nhận thấy tình cảm không còn, sống mỗi người một nơi nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: Anh K J I và chị H không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh K J I và chị H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh K J I đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt và ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H nhận thay các thông báo, quyết định, bản án của Tòa án và cam đoan không khiếu nại, không kháng cáo đối với quyết định, bản án sơ thẩm.
Do chị H, anh K J I đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.
Tại phiên tòa, chị H và anh K J I vắng mặt, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án về tranh chấp ly hôn. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H hiện nay đang sinh sống ở Hải Phòng, bị đơn là anh K J I, quốc tịch Hàn Quốc, hiện nay đang sinh sống tại Hàn Quốc, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H và bị đơn anh K J I vắng mặt và cùng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Anh K J I và chị Nguyễn Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình vào ngày 18/7/2023 là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Cả hai anh chị cùng thừa nhận quá trình sau khi kết hôn, anh chị bất đồng trong quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, hiện đã sống ly thân mỗi người một nơi, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể đoàn tụ, cùng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Xét thấy việc thuận tình ly hôn của chị H và anh K J I là tự nguyện không bị ép buộc, căn cứ vào Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị H và anh K J I.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh K J I không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh K J I không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị H và anh K J I được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H, cụ thể:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh K J I.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh K J I không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H và anh K J I không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000882 ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Anh K J I được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - UBND huyện Q, tỉnh Thái Bình (ĐKKH ngày 18/7/2023); - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Hà |