vanban.org

Bản án 342/2017/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 26/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Trung T và Hồ Ngọc A phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lê Trung T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2017. Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc A 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung T và đồng phạm phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Trung T và Hồ Ngọc A phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
———————
Bản án số: 342/2017/HS-ST
Ngày 26-12-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Minh Hiếu.

2. Ông Ngô Văn Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 337/2017/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 470/2017/HSST-QĐ ngày 15 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo:

1. Lê Trung T, sinh năm 1997 tại tỉnh Hậu Giang; thƣờng trú: Ấp 7A1, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Lê Trung L, sinh năm 1976 và bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 08/8/2017, có mặt.

2. Hồ Ngọc A, sinh năm 1997 tại tỉnh Kiên Giang; thƣờng trú: Ấp TT, xã TĐ, huyện TH, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: Lớp 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Hồ Văn U, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1975; vợ tên Trƣơng Diễm M, sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 08/8/2017, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Nguyễn Hữu H, sinh năm 1996; thƣờng trú: Số 677/10B, khu phố T, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 17 giờ ngày 07/8/2017, Lê Trung T và Hồ Ngọc A đón xe taxi đến quán cà phê “Thủy Mộc” ở gần khu vực chợ An Cơ, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng gặp ngƣời đàn ông tên thƣờng gọi là G để hỏi mua ma túy đá sử dụng thì G nói đã hết hàng, chỉ còn một ít thì cho A và T sử dụng không lấy tiền. Sau khi sử dụng ma túy xong, G nhờ A và T đến khu vực ngã ba V thuộc thành phố B, tỉnh Đồng Nai gặp ngƣời phụ nữ tên thƣờng gọi là chị S mua ma túy giúp cho G. Trƣớc khi đi, G đƣa cho T 1.500.000 đồng tiền mặt, xe mô tô hiệu Exciter biển số 59P1-875.34, điện thoại Sam Sung màu xanh đen. T điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển số 59P1-875.34 chở A đến vòng xoay An Phú rồi T đƣa xe cho A điều khiển đến ngã ba V gần khu vực trạm thu phí gặp chị S mua ma túy. T đƣa cho chị S 1.500.000 đồng thì chị S chỉ cho T đến chỗ xe mô tô cách chỗ chị S đứng khoảng 03 mét lấy 01 gói nylon ma túy đá để ở chỗ để chân của xe. Sau đó, T bỏ ma túy vào túi quần đang mặc rồi A chở T về. Khi đi đến gần bệnh viện thị xã D thì xe mô tô bị đứt dây xích nên cả hai xuống xe dắt bộ. Đến khoảng 23 giờ 20 phút ngày 07/8/2017, khi T và A đi đến trƣớc tiệm phở T, thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng tuần tra Công an phƣờng T, thị xã D kiểm tra phát hiện trong túi quần của T có 01 gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng, T và A khai là ma túy đá nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng có Methamphetamin, xe mô tô hiệu Exciter biển số 59P1-875.34, điện thoại Sam Sung màu xanh đen.

Đối với ngƣời đàn ông tên G đƣa xe và tiền cho các bị cáo đi mua ma túy và ngƣời phụ nữ tên S đã bán ma túy cho các bị cáo hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Căn cứ kết luận giám định số 392/MT-PC54 ngày 10/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, kết luận: Chất màu trắng trong 01 gói nylon hàn kín trọng lƣợng 2,4669 gam, có thành phần Methamphetamin, hàm lƣợng 52,29%, trọng lƣợng Methamphetamin 1,2899 gam. Trọng lƣợng sau giám định là 1,9289 gam.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám giám định số 392/MT-PC54 ngày 10/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng.

Tại Cáo trạng số 317/QĐ - KSĐT ngày 07 tháng 11 năm 2017, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lê Trung T và Hồ Ngọc A về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p, khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Trung T, Hồ Ngọc A, mỗi bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc xe mô tô hiệu Exciter biển số 59P1-875.34; điện thoại di động Sam sung màu xanh đen. Tịch thu tiêu hủy bì thƣ đã niêm phong chứa ma túy đá trọng lƣợng hoàn lại sau giám định 1,9289 gam.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi nhƣ cáo trạng truy tố, trong phần nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng; ngƣời làm chứng không khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định có tội: Khoảng 23 giờ 20 phút ngày 07/8/2017, trƣớc tiệm phở T, thuộc khu phố Đ, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, Công an phƣờng T, thị xã D bắt quả tang Lê Trung T đang điều khiển xe mô tô hiệu Exciter biển số 59P1-875.34 chở Hồ Ngọc A thu giữ trong túi quần của T 01 gói nylon hàn kín trọng lƣợng 2,4669 gam, có thành phần Methamphetamin, hàm lƣợng 52,29%, trọng lƣợng Methamphetamin 1,2899 gam (Căn cứ kết luận giám định 392/MT-PC54 ngày 10/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự “Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Hành vi của các bị cáo vận chuyển 01 gói nylon hàn kín bên trong có 2,4669 gam, có thành phần Methamphetamin, hàm lƣợng 52,29%, trọng lƣợng Methamphetamine là 1,2899gam đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 317/QĐ - KSĐT ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc sử dụng ma túy đá sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe ngƣời sử dụng, tệ nạn ma túy còn gây suy yếu giống nòi, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

Trong vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có phân công vai trò cụ thể, cả hai bị cáo đều thực hiện vai trò là ngƣời thực hành nên mức án dành cho hai bị cáo là ngang nhau.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p, khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣời lao động, nghiện ma túy, chƣa có tiền án, tiền sự.

Xử lý vật chứng:

- Xét 01 bì thƣ đƣợc niêm phong có thành phần Methamphetamine trọng lƣợng sau giám định 1,9289 gam là vật cấm lƣu thông, cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét xe mô tô hiệu Exciter biển số 59P1-875.34 thu giữ của các bị cáo hiện không xác định đƣợc chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An đã đăng tin truy tìm chủ sở hữu nhƣng không có ngƣời đến nhận và điện thoại Sam Sung màu xanh đen các bị cáo khai là của G, cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc.

Đối với ngƣời phụ nữ tên S bán ma túy cho các bị cáo và G là ngƣời nhờ các bị cáo mua ma túy, hiện chƣa xác định đƣợc nhân thân nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh.

Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Lê Trung T và Hồ Ngọc A phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p, khoản 1 Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Trung T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2017.

- Xử phạt bị cáo Hồ Ngọc A 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đƣợc niêm phong có thành phần Methamphetamine trọng lƣợng sau giám định 1,9289 gam.

- Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc xe mô tô hiệu Exciter biển số 59P1-875.34 và điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Lê Trung T và Hồ Ngọc A, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án

Cỡ chữ