- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Thị l - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 341/2024/HS-ST Ngày: 15 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đức Hảo
2. Bà Phạm Thị Thu Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai An - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 301/2024/HSST ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 390/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2024/QĐST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vương Thị L; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 01 tháng 02 năm 1985 tại tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: xóm A, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vương Quốc H và con bà: Nguyễn Thị C; Chồng: Nguyễn Trọng C1, sinh năm 1982; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị áp dụng biện pháp Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Phan Thị Thu H1, sinh năm 1980; Trú tại: xóm D, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phan Xuân H2, sinh năm 1975 (Chồng của bà H1) và chị Phan Thảo V, sinh năm 2002 (Con gái bà H1); Đều trú tại: xóm D, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hoàng Nghĩa T, sinh năm 1984; Trú tại: xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
+ Ông Lưu Thanh T1, sinh năm 1981; Trú tại: khối A, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: khối A, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 58 phút, ngày 20/5/2024, Vương Thị L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha biển số 37M1 – 994.68 di chuyển trên phần đường phía bắc của đường N hướng từ thành phố V lên huyện H. Khi đến trước khu vực trước số nhà E, đường N thuộc khối A, phường C, thành phố V, tình Nghệ An. Do chở vật cồng kềnh phía sau xe và vượt xe khi xe chạy phía trước chưa tránh về phía bên phải nên đã va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 37N1 – 548.35 do bà Phan Thị Thu H1, sinh năm 1980 trú tại xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An điều khiển đi phía trước cùng chiều. Sau khi va chạm, bà H1 bị ngã xuống đường và va chạm với xe ô tô biển số 70C – 134.32 do ông Hoàng Nghĩa T, sinh năm 1984 trú tại xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An điều khiển đi phía sau cùng chiều với xe mô tô biển số 37N1 – 548.35. Hậu quả: Bà Phan Thị Thu H1 bị tử vong tại chỗ, hai xe mô tô bị hư hỏng. Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và khám xét các dấu vết va chạm trên các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn.
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông: Thuộc Quốc lộ 46A là đường thẳng, tầm nhìn không hạn chế và che khuất, chạy theo hướng Đông sang T, hướng Đông là đường đi đường Đ, hướng Tây đi huyện H. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng, ở giữa có giải phân cách cố định trồng cây cảnh, rộng 8,3 mét. Mỗi chiều đường ở hai bên tiếp sát với mép đường, được kẻ vạch liền màu trắng giới hạn đường (vạch giới hạn sát hai mép đường cách mép đường 0,8 mét) và kẻ vạch nét đứt màu trắng phân chia mỗi chiều đường thành hai làn đường rộng bằng nhau là 3,6 mét. Hai bên đường là vỉa hè và khu vực nhà dân.
Chọn chân cọc H2/16 ở giải phân cách giữa đường Q làm điểm mốc, chọn tâm vạch phân chia 2 làn đường của phần đường phía Bắc đường Quốc lộ 46A làm đường chuẩn:
(1) Dấu vết cày: Trên phần đường phía Bắc đường Q, cách điểm mốc 18,3 mét về phía T, cách đường chuẩn 0,7 mét về phía Bắc là điểm dấu vết cày trượt trên mặt đường dài 15,3 mét, chỗ rộng nhất 1,2 mét. Vết cày có dạng gấp khúc hình chữ V. Phần phía Đông vết cày dài 15,7 mét, có chiều hướng từ Đông sang T và chếch từ đường chuẩn sang mép đường phía Bắc. Điểm cuối vết cày kết thúc tại các bộ phận bên trái của xe mô tô biển số 37N1 – 548.35.
(2) Vùng dấu vết máu, tổ chức não và các đồ vật: Trên phần đường phía Bắc đường Q, cách điểm dấu vết cày (1) 8,5 mét về phía Tây, cách đường chuẩn 1,3 mét về phía Nam là tâm vũng dấu vết máu và tổ chức não dạng dòng chảy bắn trên diện kích thước (1,6 x 1,2) mét. Xung quanh vị trí này có các đồ vật sau: 01 mũ bảo hiểm bị nứt vỡ, 01 đôi dép màu trắng, 01 mũ lưỡi trai nửa đầu màu đen.
(3) Vị trí xe mô tô biển số 37N1 – 548.35: Xe mô tô nằm ngả nghiêng bên trái trên phần đường phía Bắc đường Quốc lộ 46A. Đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. T2 trục bánh trước và bánh sau lần lượt cách đường chuẩn là 0,86 mét và 01 mét. Phần tay lái và tay phanh phía trước bên trái của xe mô tô đang mắc vào sợi dây cao su màu đen buộc hàng phía sau xe mô tô biển số 37M1 – 994.68.
(4) Vị trí xe mô tô biển số 37M1 – 994.68: Xe mô tô nằm ngả nghiêng bên trái trên phần đường phía Bắc đường Quốc lộ 46A. Đầu xe quay hướng T, đuôi xe quay hướng Đông Bắc. T2 trục bánh trước và bánh sau lần lượt cách đường chuẩn là 1,3 mét và 0,58 mét. T2 trục bánh trước xe mô tô này cách tâm bánh trước xe mô tô (3) là 2,2 mét về phía T. Phần yên phía sau xe mô tô được gắn buộc 01 giá kim loại chở hàng, trên giá kim loại được buộc 04 thùng xốp (mỗi bên 02 thùng) bởi 01 sợi dây cao su màu đen, ở giữa có 01 thùng nhựa màu đen đựng các quả cam. Một đầu sợi dây cao su màu đen buộc hàng được buộc vào các cạnh phía dưới bên phải giá kim loại chở hàng, sợi dây ở đầu này luồn ra phía trước tay phanh rồi vòng xuống phía dưới tay lái xe mô tô (3) và vòng ra phía sau đuôi xe mô tô này đến đầu sợi dây còn lại được buộc ở bên trái giá kim loại chở hàng của xe mô tô này. Đối diện phía dưới xe mô tô này trên mặt đường có vết dầu loang.
(5) Vị trí xe ô tô biển số 70C – 134.32: Xe ô tô dừng đỗ trên phần đường phía Bắc đường Q. Đầu xe quay hướng Tây, đuôi xe quay hướng Đông. T2 trục bánh trước và bánh sau bên phải xe ô tô này lần lượt cách đường chuẩn là 1,32 mét và 1,16 mét. T2 trục bánh ngoài dãy bánh lốp phía sau bên phải xe ô tô này cách tâm trục trước xe mô tô (4) là 8,6 mét về phía Tây.
Đến khoảng 15 giờ 55 phút ngày 20/5/2024, Vương Thị L đã đến Công an thành phố V đầu thú và khai nhận hành vi vi phạm của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết đối với bà Phan Thị Thu H1 và trưng cầu giám định cơ chế va chạm, dấu vết cơ học trên các phương tiện liên quan đến tại nạn.
Tại bản kết luận giám định số 191/KL-KTHS(DVCH) ngày 22/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận:
“1,Tại thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô biển số 70C-134.32, xe mô tô biển số 37M1-994.68 và xe mô tô 37N1-548.35 di chuyển cùng chiều với nhau trên đường N theo hướng từ đường Đ đi huyện H.
2, Không phát hiện dấu vết va chạm giữa ô tô biển số 70C-134.32 với xe mô tô biển số 37M1-994.68.
3, Không phát hiện dấu vết va chạm giữa ô tô biển số 70C-134.32 với xe mô tô biển số 37N1-548.35.
4, Không phát hiện dấu vết va chạm giữa mô tô biển số 37M1-994.68 với xe mô tô biển số 37N1-548.35.
- Dây thun cao su màu đen buộc ở thùng hàng phía sau bên phải xe mô tô biển số 37M1-994.68 va chạm với bên trái tay lái xe xe mô tô biển số 37N1-548.35. Vị trí va chạm trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường N theo hướng từ đường Đ đi huyện H. Tư thế va chạm: Mặt lăn các lốp của xe mô tô biển số 37M1-994.68 và xe mô tô biển số 37N1-548.35 đang tiếp xúc với mặt đường (hai phương tiện chưa ngã đổ trên đường).
5, Không xác định tốc độ di chuyển của xe ô tô biển số 70C-134.32, xe mô tô biển số 37M1-994.68 và xe mô tô 37N1-548.35 tại thời điểm xay ra va chạm”.
Tại bản kết luận giám định tử thi số 130/KLGĐTT-KTHS ngày 27/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
“1,Các kết luận chính:
- Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát, rách da, bầm tụ máu. Tổ chức da, cơ bị bong lóc, dập nát.
- Đầu, trán, mặt, cổ ngực bị biến dạng.
- Vỡ, sập xương hộp sọ. Máu trong hộp sọ và tổ chức não chảy ra ngoài qua đường xương và vết thương.
- Các xương hàm mặt bị gãy nhiều vị trí.
2, Kết luận:
- Kết luận nguyên nhân chết: Vỡ, sập xương họp sọ, dập não, xuất huyết não và gãy các xương hàm mặt do chấn thương.
- Kết luận khác: Không./.”
Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra xác định Vương Thị L và ông Hoàng Nghĩa T không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy khi điều khiển phương tiện giao thông lúc xảy ra vụ tai nạn.
Sau khi vụ tai nạn các phương tiện mô tô biển số 37N1 – 548.35 và xe mô tô biển số 37M1-994.68 bị hư hỏng nhẹ. Quá trình điều tra ông Phan Xuân H2 (chồng bà H1) và Vương Thị Liên từ C2 định giá giá trị thiệt hại của các phương tiện.
Về trách nhiệm dân sự: Vương Thị L hỗ trợ cho gia đình bà Phan Thị Thu H1 tiền mai táng phí, sửa chữa phương tiện và hỗ trở tổn thất về tinh thần số tiền 205.000.000 đồng (Hai trăm linh năm triệu đồng). Ông Hoàng Nghĩa T hỗ trợ cho gia đình bà Phan Thị Thu H1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Hiện gia đình người bị hại không có yêu cầu gì về mặt dân sự, đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Vương Thị L.
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tạm giữ của Vương Thị L 01 (Một) mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha biển số 37M1 - 994.68; 01(Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 37M1- 994.68 và 01(Một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Vương Thị L do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp. Tạm giữ 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 37N1 - 548.35; 01(Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 37N1 - 548.35 và 01(Một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Thị Thu H1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp. Tạm giữ 01(Một) xe ô tô biển số 70C - 134.32; 01(Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe ô tô biển số 70C - 134.32 có hiệu lực đến hết ngày 10/12/2024 và 01(Một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Hoàng Nghĩa T do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp có giá trị đến 02/6/2025. Hiện các vật chứng, giấy tờ trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V trả lại cho Vương Thị L, gia đình bà Phan Thị Thu H1 và ông Hoàng Nghĩa T.
Bản Cáo Trạng số 351/CT-VKS-TPV ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An truy tố Vương Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ quyền công tố luận tội tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Vương Thị Liên từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) đến 48 (Bốn mươi tám) tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình người bị hại đã được bồi thường đầy đủ, không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết và không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung:
. Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo Vương Thị L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, các kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 11 giờ 58 phút, ngày 20/5/2024, Vương Thị L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha biển số 37M1 – 994.68 di chuyển trên phần đường phía bắc của đường N hướng từ thành phố V lên huyện H. Khi đến trước khu vực trước số nhà E, đường N thuộc khối A, phường C, thành phố V, tình Nghệ An. Do chở vật cồng kềnh phía sau xe và vượt xe khi xe chạy phía trước chưa tránh về phía bên phải (vi phạm điểm d khoản 3 điều 30 và khoản 2 điều 14 Luật giao thông đường bộ) nên đã va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 37N1 – 548.35 do bà Phan Thị Thu H1, sinh năm 1980 trú tại xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An điều khiển đi phía trước cùng chiều. Sau khi va chạm, bà H1 bị ngã xuống đường và bị xe ô tô biển số 70C – 134.32 do ông Hoàng Nghĩa T, sinh năm 1984 trú tại xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An điều khiển đi phía sau cùng chiều với xe mô tô biển số 37N1 – 548.35 đè qua người. Hậu quả: Bà Phan Thị Thu H1 bị tử vong tại chỗ, hai xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
. Xét tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tính chất vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và gây thiệt hại đến tài sản cho người khác nên cần xử phạt nghiêm.
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; sau khi gây tại nạn giao thông đã tự nguyện đi đầu thú; tích cực bồi thường đầy đủ về mặt dân sự cho gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục như Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo.
. Trong vụ án này, đối ông Hoàng Nghĩa T đều khiển phương tiện xe ô tô biển số 70C – 134.32 đi đúng quy định về an toàn giao thông đường bộ; Cơ quan công an đã tiến hành kiểm tra xác định ông T không có nồng độ cồn và âm tính với ma túy nên không phạm tội.
. Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tạm giữ của Vương Thị L 01 (Một) mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha biển số 37M1 - 994.68; 01(Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 37M1- 994.68 và 01(Một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Vương Thị L do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp. Tạm giữ 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 37N1 - 548.35; 01(Một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 37N1 - 548.35 và 01(Một) giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Phan Thị Thu H1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp. Tạm giữ 01(Một) xe ô tô biển số 70C - 134.32; 01(Một) giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe ô tô biển số 70C - 134.32 có hiệu lực đến hết ngày 10/12/2024 và 01(Một) giấy phép lái xe hạng C mang tên Hoàng Nghĩa T do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp có giá trị đến 02/6/2025. Hiện các vật chứng, giấy tờ trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V trả lại cho Vương Thị L, gia đình bà Phan Thị Thu H1 và ông Hoàng Nghĩa T nên miễn xét.
. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình người bị hại đã được bồi thường đầy đủ, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Vương Thị L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/11/2024.
Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vương Thị L phải chịu 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo bản án; Người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát ND thành phố Vinh; - Chi cục THADS thành phố Vinh; - Công an thành phố Vinh; - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; - Viện kiểm sát ND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - UBND xã Nam Thanh, h Nam Đàn, Nghệ An; - Bị cáo;người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Lưu hồ sơ, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Hoa |