- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 341/2024/HS-ST Ngày: 16-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Túy Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Phước Trinh
2. Bà Phạm Thị Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 280/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 291/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh T, sinh năm 1980, sinh tại: Thành phố H; Nơi cư trú: Ấp Y, xã T, huyện C, Thành phố H; chỗ ở: Ấp Y, xã T, huyện C, Thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H (chết) và bà Trần Thị Kim H1; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị L, con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 20/3/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 07 giờ 30 phút ngày 20/3/2024, Nguyễn Minh T đang ở nhà tại Ấp Y, xã T, huyện C, Thành phố H thì sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo của T gọi đến số thuê bao di động 0708091797 của Lê Quốc Đ để hỏi mua một gói ma túy tổng hợp (ma túy đá) với giá 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng), mục đích để dành bán cho người khác nhằm thu lợi cá nhân. Đạt đồng ý bán và hẹn gặp tại đường số 129, Ấp 12, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để giao, nhận chất ma túy. Đ thỏa thuận với T thanh toán tiền mua ma túy bằng hình thức chuyển khoản tài khoản ngân hàng, T đồng ý. Khoảng 08 giờ 50 phút cùng ngày, Đ đến địa điểm hẹn giao cho T 01 (một) gói ma túy rồi Đ bảo T thanh toán tiền mua ma túy qua tài khoản ngân hàng số “1025573774” mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương V, người thụ hưởng Trần Thủy T2 (là vợ của Đ), T đồng ý.
Sau khi mang gói ma túy đi về nhà, khoảng 09 giờ 35 phút cùng ngày, Tâm sử dụng tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần A số “9748881” tên Nguyễn Minh T chuyển số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) đến tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương V số “1025573774” của Trần Thủy T2, trong đó có số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng) là tiền T thanh toán mua chất ma túy cho Đ và số tiền 6.200.000đ (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng) là tiền T trả nợ cho Đ. Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, T đang ở nhà thì có một người phụ nữ (không rõ lai lịch) sử dụng số thuê bao di động 0333191539 gọi điện thoại đến số thuê bao di động 0925909474 của T hỏi mua một gói ma túy đá với giá 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng). T đồng ý bán và hẹn địa điểm giao chất ma túy, nhận tiền tại cầu Sài Gòn cáp thuộc khu vực xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, T lấy 01 (một) gói ma túy đá cất giấu trong túi quần phía trước, bên trái của T đang mặc rồi một mình điều khiển chiếc xe gắn máy nhãn hiệu Exciter (không có biển số) đi từ nhà của T đến khu vực xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh để bán 01 (một) gói ma túy cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch) đã thỏa thuận trước đó. Khi đi đến đoạn đường Lê Thị Ngà thuộc Ấp 3, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, T dừng xe máy lại, dùng tay trái lấy 01 (một) gói ma túy đá từ trong túi quần phía trước, bên trái của T đang mặc rồi cất giấu gói ma túy trong lòng bàn tay trái, sau đó T dùng tay phải để lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo từ trong túi quần phía trước, bên phải của T đang mặc để gọi điện thoại cho người phụ nữ mua ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an huyện Củ Chi phối hợp với Công an xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tuần tra yêu cầu kiểm tra. Thấy lực lượng Công an, T liền thả 01 (một) gói ma túy từ trong tay trái xuống phía dưới mặt đất ngay tại ví trí T đang dừng xe máy nhưng bị lực lượng Công an phát hiện, thu giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi trên.
Qua điều tra, Nguyễn Minh T khai bắt đầu bán ma túy kể từ tháng 01/2023 cho đến thời điểm bị bắt quả tang. T đã có 04 (bốn) lần bán chất ma túy cho Đặng Hoàng M, cụ thể:
Vào khoảng tháng 01/2024, T mua ma túy đá của Lê Quốc Đ với giá 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng), sau đó mang về nhà phân chia thành 02 (hai) gói ma túy rồi mang đi bán cho Đặng Hoàng M 01 (một) gói ma túy đá với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), M trả tiền mặt cho T. Vào khoảng tháng 02/2024, T bán cho Mến 01 (một) gói ma túy đá còn lại với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), Mến trả tiền mặt cho T. Tâm thu lợi tổng cộng số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vào ngày 17/3/2024, T mua 01 (một) gói ma túy đá của Lê Quốc Đ với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), sau đó T mang đi bán cho Đặng Hoàng M 01 (một) gói ma túy đá với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), M thanh toán tiền mua ma túy bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng đến tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần A số “9748881” tên Nguyễn Minh T. T thu lợi được số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Vào ngày 18/3/2024, T mua 01 (một) gói ma túy đá của Lê Quốc Đ với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), sau đó T mang đi bán cho Đặng Hoàng M 01 (một) gói ma túy đá với giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), M trả tiền mặt cho T. T thu lợi được số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Tiến hành làm việc với Đặng Hoàng M xác định M đã có 04 (bốn) lần mua chất ma túy đá của Nguyễn Minh T như T đã khai nhận. Sau khi mua được chất ma túy, M sử dụng chất ma túy một mình cho đến hết.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Minh T tại Ấp 12, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không phát hiện, thu giữ gì thêm.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Minh T và Đặng Hoàng M có kết quả: T âm tính (-) với chất ma túy, M dương tính (+) với chất ma túy tổng hợp.
- Thu giữ của Nguyễn Minh T:
+ 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 1133/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.
+ 01 (Một) xe máy không có biển số, số khung: MH3UG0750KK036535, số máy: G3E6E-0527241.
+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, có số imei 1: 861428056546352; số imei 2: 861428056546345.
- Thu giữ của Đặng Hoàng M 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59L2 - 6320, số khung: RLHHC09014Y309383, số máy: HC09E-3009443 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEI 1: 358544105690460/01, số IMEI 2: 358544105690467/01.
Bản Cáo trạng số: 259/CT-VKS-CC ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo, đánh giá các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng theo điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T với mức án từ 08 (Tám) năm đến 09 (Chín) năm tù.
Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Đặng Hoàng M, ngày 20/3/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an huyện Củ Chi đã bàn giao Mến cho Công an xã Trung An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo thẩm quyền. Xét thấy phù hợp nên không đề nghị xem xét trong vụ án này.
Đối với việc bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận mua ma túy của Lê Quốc Đ và chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương V của Trần Thủy T2 chỉ có lời khai của bị cáo T, ngoài ra không còn có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh Đ bán ma túy cho bị cáo T. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi không xử lý đối với Đ và T2. Xét thấy phù hợp nên không đề nghị xem xét trong vụ án này.
Đối với người phụ nữ mua ma túy của bị cáo T không rõ nhân thân lai lịch nên không làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau. Xét thấy phù hợp nên không đề nghị xem xét trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu và tiêu hủy:
+ 01 (Một) gói nylon chứa tinh thể được niêm phong mang số vụ 1133/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 (Một) xe máy không có biển số, số khung: MH3UG0750KK036535, số máy: G3E6E-0527241. Đây là phương tiện bị cáo T sử dụng để đi mua, bán trái phép chất ma túy. Qua điều tra xác định chiếc xe này do bị cáo T mua của ông Thân Quốc Th có Hợp đồng mua bán xe mô tô, xe máy ngày 04/3/2024 được công chứng tại Văn phòng công chứng Lý Thị Như Hòa. Do đó, xác định bị cáo là người quản lý, sử dụng xe hợp pháp.
+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, có số imei 1: 861428056546352; số imei 2: 861428056546345. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo T và là phương tiện dùng để liên lạc mua, bán trái phép chất ma túy.
Đối với 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59L2 – 6320, ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã có Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 3584/QĐ-ĐCSKT bằng hình thức: Chuyển 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59L2 - 6320, số khung: RLHHC09014Y309383, số máy: HC09E-3009443 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số IMEI 1: 358544105690460/01, số IMEI 2: 358544105690467/01 đã thu giữ của Đặng Hoàng Mế cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Củ Chi xử lý theo quy định của pháp luật (Bút lục 235). Do đó, không đề nghị xem xét xử lý trong vụ án này là phù hợp.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về lỗi lầm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, các quyết định Tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội: Do muốn kiếm lời từ việc mua bán ma túy nên bị cáo T đã mua ma túy từ người khác để bán lại cho người nghiện khác để kiếm lời. Bị cáo đã bán cho Đặng Hoàng M 04 lần và thu lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy được 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
Sự việc xảy ra như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố đối với bị cáo.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận giám định số: 3770/KL – KTHS ngày 28/3/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T và hình dấu Công an xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi (Ký hiệu mẫu m) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 5,5729g (Năm phẩy năm bảy hai chín gam), loại Methamphetamine.
Xét thấy, bị cáo T đã thực hiện hành vi mua bán ma túy với mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời, đã bán nhiều lần cho M, ma túy bị thu giữ là chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 5,5729g (năm phẩy năm bảy hai chín gam). Như vậy, có đủ cơ sở để xác định hành vi nêu trên của bị cáo T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố đối với bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Qua quá trình điều tra và làm việc, bà Trần Thủy T2 có quen biết Nguyễn Minh T và có cho bị cáo T mượn tiền. Số tài khoản 1025573774 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương V mang tên Trần Thủy T2 chỉ có một mình bà Tiên sử dụng, còn thẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương V (thẻ ATM) do Lê Quốc Đ sử dụng và Lê Quốc Đ đang sử dụng số thuê bao di động 0708091797. Số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) do Nguyễn Minh T chuyển khoản vào ngày 20/3/2024 là do bị cáo T mượn tiền của Đ nên chuyển khoản để trả nợ cho Đ. Đồng thời, bà T2 đã cung cấp hình ảnh của Lê Quốc Đ.
Qua làm việc với Lê Quốc Đ, Đ đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi bắt ngày 24/6/2024 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong vụ án khác. Đ khai bắt đầu bán ma túy từ đầu tháng 4/2024 và không bán ma túy cho Nguyễn Minh T. Do bị cáo T nhiều lần mượn tiền của Đ nên bị cáo T chuyển khoản ngân hàng để trả nợ cho Đ. Số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) là tiền của bị cáo T chuyển khoản ngân hàng để trả nợ cho Đ. Bị cáo T cũng thừa nhận có vay mượn tiền từ Đ. Đối với việc bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận mua ma túy của Lê Quốc Đ và chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương V của Trần Thủy T2 chỉ có lời khai của bị cáo T, ngoài ra không còn có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh Đ bán ma túy cho bị cáo T. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi không xử lý đối với Đ và T2. Viện kiểm xét không đề nghị xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xử lý trong vụ án này.
Đối với người phụ nữ mua ma túy của bị cáo T không rõ nhân thân lai lịch nên không làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xử lý trong vụ án này.
Đối với Đặng Hoàng M, ngày 20/3/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Củ Chi đã bàn giao Mến cho Công an xã Trung An, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên không xử lý trong vụ án này.
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo phạm tội do cố ý, bị cáo đã có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét về tình tiết tăng nặng không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp với quy định của pháp luật.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo. Xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị.
Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) vào ngân sách nhà nước nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1133/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 (Một) xe máy không biển số; số khung: MH3UG0750KK036535; số máy: G3E6E-0527241 do bị cáo mua lại của ông Thân Quốc Th có Hợp đồng mua bán và được công chứng tại Văn phòng công chứng Lý Thị Như Hòa, nên xác định bị cáo là người quản lý, sử dụng xe hợp pháp. Bị cáo đã sử dụng chiếc xe để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo có số imei1: 861428056546352; số imei2: 861428056546345 là tài sản của bị cáo đã dùng để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
(Tang vật theo lệnh nhập kho vật chứng số: 941/LNK-ĐCSKT ngày 04/7/2024, phiếu nhập kho vật chứng số 183/PNK ngày 08/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Củ Chi. (BL 212-213))
Ngày 17/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã có Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 3584/QĐ-ĐCSKT bằng hình thức: Chuyển 01 (một) chiếc xe gắn máy biển số 59L2 - 6320, số khung: RLHHC09014Y309383, số máy: HC09E-3009443 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, số imei 1: 358544105690460/01, số imei 2: 358544105690467/01 đã thu giữ của Đặng Hoàng M cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Củ Chi xử lý theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi không đề nghị xem xét. Xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 20/3/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói nylon niêm phong mang số vụ 1133/24 có chữ ký niêm phong của Điều tra viên và Giám định viên.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 (Một) xe máy không biển số; số khung: MH3UG0750KK036535; số máy: G3E6E-0527241.
+ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu ViVo, có số imei1: 861428056546352; số imei2: 861428056546345.
(Tang vật theo lệnh nhập kho vật chứng số: 941/LNK-ĐCSMT ngày 04/7/2024, phiếu nhập kho vật chứng số 183/PNK ngày 08/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Củ Chi. (BL 212-213))
+ Buộc bị cáo T nộp số tiền thu lợi bất chính 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật phí và lệ phí năm 2015, buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND H.Củ Chi; - Chi cục THADS H.Củ Chi; - PC.53; - Nhà tạm giữ CA H.Củ Chi; - Đội CSĐTTH CA H.Củ Chi; - Sở Tư pháp TPHCM - Bị cáo; - Lưu VP, hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Túy Phượng |