vanban.org

Bản án 341/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Z.

Buộc ông Hứa Văn T trả cho ông Nguyễn Văn Z 29,5 (hai mươi chín phẩy năm) chỉ vàng 24k. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Về án phí: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Thực hiện nghĩa vụ Z-T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Z.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 341/2024/DS-ST
Ngày: 21-9-2024
V/v tranh chấp yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ dân sự.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phước Tường.

2. Bà Âu Thị Ngọc Hoa.

-Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hiển- Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 353/2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 9 năm 2024 giữa các đưZg sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Z sinh năm 1951 (có mặt).

Địa chỉ: Xã MTN, huyện CL, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Ông Hứa Văn T sinh năm 1968 (có mặt).

Địa chỉ: Xã HMT, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Chị Nguyễn Công Hồng X sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: Phường x, quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 17/9/2024).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn Z trình bày:

Theo Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 03/QĐ-CCTHADS ngày 22/10/2021 thì bà Hứa Thị Hương có nghĩa vụ trả cho ông 60 chỉ vàng 24k. Sau đó bà Hương chết, ông Hứa Văn T là anh ruột của bà Hương có hứa sẽ trả thay cho bà Hương 60 chỉ vàng 24k nhưng mới trả được 150.000.000 đồng (tương đương với 27,5 chỉ vàng 24k) vào ngày 21/6/2022. Tại thời điểm ngày 21/6/2022 giá vàng khoảng 5.480.000 đồng/01 chỉ vàng 24k.

Qua năm 2023, ông T có trả thêm cho ông 20.000.000 đồng (tương đương với 03 chỉ vàng 24k) rồi ngưng luôn cho đến nay.

Nay yêu cầu ông T trả ngày 29,5 chỉ vàng 24k.

* Tại phiên tòa, chị Nguyễn Công Hồng X trình bày:

Bà Hứa Thị Hương là em ruột của ông T, sau khi bà Hương chết ông T có cam kết trả thay cho bà Hương số nợ 60 chỉ vàng 24k theo giấy mượn nợ ngày 21/6/2022. Cùng ngày 21/6/2022, ông T có trả cho ông Z 150.000.000 đồng. Qua năm 2023, ông T có trả thêm được 20.000.000 đồng. Tổng cộng ông T đã trả cho ông Z được 170.000.000 đồng tương đương với 30,5 chỉ vàng 24k.

Hiện ông T còn nợ ông Z 29,5 chỉ vàng 24k và đồng ý trả cho ông Z 29,5 chỉ vàng 24k nhưng xin trả trong hạn 03 năm.

* Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Hứa Văn T trình bày:

Ông xác định hiện còn nợ ông Z 29,5 chỉ vàng 24k và đồng ý trả cho ông Z 29,5 chỉ vàng 24k nhưng xin trả trong hạn 03 năm.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là tuân theo đúng qui định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Bị đơn thừa nhận hiện còn nợ ông Z 29,5 chỉ vàng 24k. Do đó đề nghị Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Z, buộc ông T trả cho ông Z 29,5 chỉ vàng 24k, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các qui định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Quá trình giải quyết vụ án ông Z trình bày là ông T có hứa trả thay số vàng và ông T thừa nhận nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự. Ông T có địa chỉ tại xã Hậu Mỹ Trinh, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về yêu cầu trả 29,5 chỉ vàng 24k: Xét thấy,

Bà Hứa Thị Hương có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Z 60 chỉ vàng 24k theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 26/2021/QĐST-DS ngày 15/4/2021 (Bút lục số 24) và ông Z đã được cơ quan thi hành án ra Quyết định thi hành án theo yêu cầu số 03/QĐ-CCTHADS ngày 22/10/2021 (Bút lục số 22), đồng thời cơ quan thi hành án cũng ra Quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ 16 theo Quyết định số 12/QĐ-CCTHADS ngày 28/4/2022 (Bút lục số 23).

Ngày 07/9/2021, bà Hương chết và có để lại tài sản là các thửa đất trong đó có thửa đất số 17, tờ bản đồ 16, diện tích 8314,9m2 tại ấp Mỹ Trinh B, xã HMT, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành BK 089853, có số vào sổ cấp GCN CH02297 ngày 13/6/2013. Để tiện lợi cho việc thừa kế thửa đất số 17, tờ bản đồ 16, ông Hứa Văn T đã cam kết trả thay số nợ 60 chỉ vàng 24k mà bà Hương (là em ruột của ông T) đã nợ ông Z (Bút lục số 02). Ông T đã thực hiện cam kết là có trả cho ông Z được 150.000.000 đồng vào ngày 21/6/2022 nên ông Z yêu cầu đình chỉ thi hành án và cơ quan thi hành án đã ra Quyết định đình chỉ thi hành án số 66/QĐ-CCTHADS ngày 21/6/2022.

Ông T đã được đứng tên quyền sử dụng đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ 16 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành DG 424895, có số vào sổ cấp GCN CS07991 ngày 19/7/2022.

Tiếp theo, ông T có trả thêm cho ông Z 20.000.000 đồng vào năm 2023, tổng cộng ông T đã trả cho ông Z được 170.000.000 đồng tương đương với 30,5 chỉ vàng 24k, còn nợ lại 29,5 chỉ vàng 24k. Tại phiên tòa hôm nay, ông T thừa nhận hiện còn nợ ông Z 29,5 chỉ vàng 24k chưa trả.

Ông T có cam kết trả thay số nợ 60 chỉ vàng 24k mà bà Hương đã nợ ông Z nhưng chỉ mới trả được 30,5 chỉ vàng 24k nợ lại 29,5 chỉ vàng 24k nên Hội đồng xét xử cần buộc ông T trả cho ông Z 29,5 chỉ vàng 24k là phù hợp với quy định tại các điều 274, 275, 351 Bộ luật dân sự.

Ông T xin trả dần 29,5 chỉ vàng 24k trong hạn 03 năm. Xét thấy, ý kiến này không được ông Z đồng ý nên Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến này của ông T.

Về án phí:

Ông T phải chịu 11.800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (giá vàng là 8.000.000 đồng/01 chỉ vàng 24k).

Ông Z không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và do ông Z được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho ông Z.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 274, 275, 351 của Bộ luật dân sự.

Căn cứ vào khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Z.

Buộc ông Hứa Văn T trả cho ông Nguyễn Văn Z 29,5 (hai mươi chín phẩy năm) chỉ vàng 24k. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí:

- Ông Hứa Văn T phải chịu 11.800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày; đối với ông Nguyễn Văn Z và ông Hứa Văn T được tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ