- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ HẰNG_VŨ QUỐC HIỆP"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 341/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05 tháng 4 năm 2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tiên;
2. Bà Nguyễn Thị Thuần;
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2023 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2023/TLST–HNGĐ ngày 31 tháng 01 năm 2023 về “V/v tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà H, sinh năm 1990;
Nơi thường trú: 29/Tổ B, Khu phố M, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ liên lạc: Đường Đ, Tổ T, Khu phố M, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt)
2. Bị đơn: Ông V, sinh năm 1983;
Nơi cư trú: 29/Tổ B, Khu phố M, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn, bản tự khai, biên bản thì nguyên đơn – bà H trình bày:
Bà và ông V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số: 01/2010 (Ủy ban nhân dân phường Đông Hưng Thuận, Quận 12 vào ngày 17/3/2010). Khi về sống chung thì bà phát hiện cả hai không cùng quan điểm, tư tưởng, lối sống, nhận thức. Mâu thuẫn về tài chính lẫn tình cảm dẫn đến vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, xung đột làm cho cuộc sống hôn nhân rất nặng nề, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Bà khuyên bảo thì ông V không nghe bỏ ngoài tai, còn có lời lẽ đe dọa làm khủng hoảng đến tinh thần của bà. Vì con bà đã tạo cơ hội cho ông V nhiều lần, nhưng ông V vẫn không thay đổi, mà ngày càng tệ hơn. Tránh xảy ra xung đột, nên bà đã dọn ra ngoài ở riêng. Nay, sức chịu đựng của bà có giới hạn và tình cảm dành cho nhau không còn, khả năng hàn gắn là không thể, nên bà yêu cầu được ly hôn với ông V.
Về con chung: Vợ chồng bà có 02 (hai) người con Q, sinh ngày 27/7/2010; M, sinh ngày 20/10/2014. Thực tế, 02 (hai) người con chung đang sống cùng bà. Do ông V đang gặp khó khăn về tài chính, không có khả năng đảm bảo để nuôi con, nên bà đồng ý trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 (hai) người con chung đến khi trưởng thành. Bà không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Trong các biên bản thì bị đơn – ông V trình bày:
Ông và bà H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 36, quyển số: 01/2010 (Ủy ban nhân dân phường Đông Hưng Thuận, Quận 12 vào ngày 17/3/2010). Thời gian đầu chung sống tương đối hạnh phúc mặc dù cũng có xảy ra mâu thuẫn nhưng chưa đến mức phải ly hôn. Tuy nhiên, càng về sau mâu thuẫn ngày càng nhiều. Nguyên nhân chủ yếu là ở ông, vì ông chơi cá độ bóng đá, không có thời gian quan tâm chăm sóc vợ con. Dẫn đến gây ra nợ nần, buồn chán đi nhậu suốt đêm. Bà H có khuyên bảo, nhưng ông bỏ ngoài tai. Cuộc sống vợ chồng ông đúng là không tìm được tiếng nói chung, ít quan tâm, chia sẽ công việc cho nhau. Người thân trong gia đình cũng hòa giải cho vợ chồng, nhưng không đạt kết quả. Thời gian qua ông đã cố gắng níu kéo để giữ gìn hạnh phúc gia đình, nhưng bà H không đồng ý. Bà H đã dọn ra ngoài ở khoảng cuối tháng 11/2022 cho đến nay. Trong khoảng thời gian này, mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận người đó, như hai người xa lạ. Ông cũng biết cuộc sống hôn nhân phải xuất phát từ cả hai phía, một mình ông cũng không làm được gì. Ông cũng biết cuộc sống hôn nhân của vợ chồng lâm vào bế tắc, không lối thoát. Nhưng, ông mong muốn bà H suy nghĩ lại về quyết định ly hôn này, vì con cái. Do đó, ông không đồng ý ly hôn với bà H.
Về con chung: Vợ chồng ông có 02 (hai) người con Q, sinh ngày 27/7/2010; M, sinh ngày 20/10/2014. Các người con chung đang sống ổn định cùng bà H. Do ông đang gặp khó khăn về tài chính không đảm bảo để nuôi con. Do đó, ông đồng ý giao 02 (hai) người con chung cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành. Ông không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, ông không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng không tiến hành hòa giải được nên vụ án được đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn có mặt giữ nguyên ý kiến, yêu cầu đã trình bày trong quá trình tố tụng và không giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc:
- Tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; đương sự chấp hành theo quy định của pháp luật.
- Giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp ly hôn”. Bị đơn có nơi cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Bà H – ông V chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào năm 2010 (Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/3/2010, số: 36, quyển số: 01/2010). Nay, bà H yêu cầu ly hôn với ông V. Ông V không đồng ý ly hôn với bà H.
Bà H – ông V có 02 (hai) người con Q, sinh ngày 27/7/2010; M, sinh ngày 20/10/2014.
Bà H – ông V thỏa thuận: Giao 02 (hai) người con tên Hậu, Hiền cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Bà H không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, bà H – ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nghĩa vụ chung về tài sản, bà H – ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo kết quả xác minh tình trạng hôn nhân: Địa phương không rõ về mâu thuẫn của vợ chồng bà H – ông V. Bà H – ông V đang sống ly thân.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo quy định tại Điều 19, 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, người nào chỉ biết bổn phận người đó, muốn sống ra sao thì sống, không cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình. Xét thấy, hôn nhân của vợ chồng nguyên đơn và bị đơn lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở và căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Đối với ý kiến của bị đơn không đồng ý ly hôn với nguyên đơn vì mong muốn con cái có đầy đủ cha, mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy, nguyên đơn ly hôn với bị đơn thì bị đơn vẫn là cha của 02 (hai) người con chung. Sau khi ly hôn bị đơn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, nên ý kiến này của bị đơn không cơ sở.
Theo quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, ...; nếu con từ đủ 07 (bảy) tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con;
Nguyên đơn – bị đơn thỏa thuận giao 02 (hai) người con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Do bị đơn gặp khó khăn về tài chính, không đảm bảo để nuôi con. Trên thực tế, 02 (hai) người con chung sống cùng nguyên đơn. Tại biên bản ghi nhận ý kiến thì 02 (hai) người con chung có nguyện vọng mong muốn được sống chung với nguyên đơn. Để đảm bảo quyền lợi của các con. Hội đồng xét xử giao 02 (hai) người con Q, sinh ngày 27/7/2010; M, sinh ngày 20/10/2014 cho nguyên đơn trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con và việc không yêu cầu này là sự tự nguyện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này.
Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ chung về tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí:
Theo Điều 47 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn, nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Nguyên đơn được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0005290 ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 51, 56, 58, 59, 60, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà H được ly hôn với ông V.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 17/3/2010, số: 36, quyển số: 01/2010 không còn giá trị.
1.2 Về con chung: Có 02 (hai) người con Q, sinh ngày 27/7/2010; M, sinh ngày 20/10/2014. Giao 02 (hai) người con tên Hậu, Hiền cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Bà H không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng; không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
1.3 Về tài sản chung: Bà H và ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4 Nghĩa vụ chung về tài sản: Bà H và ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Bà H đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0005290 ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H được khấu trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2022/0005290 ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận 12; - Chi cục THADS Quận 12; - UBND phường Đông Hưng Thuận, Quận 12, Tp. HCM; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Kim |