vanban.org

Bản án 341/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Anh Hồ Công V được ly hôn với chị Lý Mai N. Về con chung: Chị N tiếp tục nuôi con chung tên Hồ Thị Tố Q, sinh ngày 01/11/2010, hiện nay đang sống chung với chị N. Anh V không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 341/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 23–9–2022
“V/v ly hôn giữa
Anh V và chị N”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Rỡ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Tám

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Nhân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng– Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2022/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2022 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2022/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 159/2022/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hồ Công V, sinh năm 1989.

Địa chỉ: Tổ 12, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Chị Lý Mai N, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Tổ 18, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh An Giang.

(Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Hồ Công V trình bày:

Anh và chị Lý Mai N sau thời gian tìm hiểu và được sự đồng ý của gia đình hai bên, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống ở gia đình vợ, được một thời gian thì vợ chồng cùng đi làm thuê ở tỉnh Bình Dương nhưng chị N không lo làm việc cũng không chăm lo cho gia đình, thường xuyên tụ tập bạn bè, bỏ bê con. Trong quá trình chung sống nhiều lần anh V phát hiện chị N thường xuyên tụ tập bạn bè bỏ gia đình đi chơi xa, có quan hệ với người đàn ông khác, anh góp ý nhưng chị N không sửa đổi nên mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng hơn. Khoảng năm 2014 chị N nghe lời bạn bè xúi giục rồi bỏ chồng con đi, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Thời gian ly thân cho đến nay anh chị không có liên lạc với nhau, anh V biết được hiện nay chị N đã sống chung với người đàn ông khác như vợ chồng. Anh V cũng đang chung sống với người phụ nữ khác và có 02 con riêng. Nay anh V yêu cầu ly hôn với chị Lý Mai N.

Về nuôi con chung: Anh V và chị N có 01 con chung tên Hồ Thị Tố Q, sinh ngày 01/11/2010, sống chung với gia đình chị N ổn định từ nhỏ, anh V yêu cầu tiếp tục giao con chung cho chị N nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: không

Về nợ chung: không.

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tòa án tiến hành xác minh được bà Lý Kim N là cô ruột của chị Lý Mai N cho biết: Trong quá trình chung sống chị N và anh V thường xuyên cự cãi về chuyện tiền bạc. Sau đó vợ chồng đến tỉnh Bình Dương làm thuê được một thời gian tiếp tục mâu thuẫn và ly thân từ năm 2014 đến nay. Chị N và anh V có một con chung tên Hồ Thị Tố Q đang sống với chị N. Bà Nga có nhận các thông báo của Tòa án về việc anh V yêu cầu ly hôn với chị N và có thông báo cho chị N biết. Chị N đồng ý ly hôn, không yêu cầu anh V nuôi con, hay cấp dưỡng cho con. Chị N không đến Tòa án được do bận làm ăn xa.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu:

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Thành phần Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đúng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định phân công thẩm phán giải quyết vụ án. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Anh V và chị N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2010 có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về tiền bạc, chị N không lo làm ăn, không chăm sóc gia đình, anh V nghi ngờ chị có quan hệ tình cảm với người khác nên thường xuyên cự cãi. Mâu thuẫn của anh chị kéo dài đến năm 2014 vợ chồng ly thân đến nay.

Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cho nhau… Vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau…”. Thế nhưng vợ chồng anh V và chị N đã không còn tin tưởng, thương yêu, quan tâm, chăm sóc cho nhau, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2014 cho đến nay, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, anh Hồ Công V yêu cầu ly hôn với chị Lý Mai N là phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh V và chị N có 01 con chung tên Hồ Thị Tố Q, sinh ngày 01/11/2010, sống chung với gia đình chị N. Xét thấy, cháu Q đang sống với chị N, được chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển ổn định. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, cần tiếp tục giao cháu Q cho chị N tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của cháu. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không.

Về nợ chung: Không có, nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Từ các căn cứ nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong vụ án, được kiểm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Anh V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị N nên quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Chị N với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt khi xét xử. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Anh V và chị N tiến tới hôn nhân năm 2010 trên cơ sở tự nguyên, tự tìm hiểu và đăng ký kết hôn, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi vợ chồng bắt đầu chung sống thì phát sinh mâu thuẫn về chuyện tiền bạc, chị N không quan tâm chăm sóc gia đình, không lo làm ăn thường xuyên tụ tập với bạn bè, nhiều lần anh V khuyên nhưng chị không sửa đổi. Ngoài ra, trong thời gian chung sống anh V nghi ngờ chị N có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Anh chị ly thân từ năm 2014. Trong thời gian ly thân anh chị đã chung sống như vợ chồng với người khác. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng trầm trong, thời gian ly thân của anh chị kéo dài, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, không chung thủy với nhau. Nhiều lần Tòa án triệu tập nhưng chị N không đến hòa giải, cho thấy chị không có thiện chí hàn gắn. Hôn nhân của anh chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt. Nên yêu cầu ly hôn của anh V là phù hợp. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận anh Hồ Công V được ly hôn với chị Lý Mai N.

Về con chung: Anh V và chị N có 01 con chung tên Hồ Thị Tố Q, sinh ngày 01/11/2010, sống chung với gia đình chị N. Xét thấy, cháu Q đang sống với chị N, được chị chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, phát triển ổn định. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, tiếp tục giao cháu Q cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng.

Chị N không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con, nên anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Ghi nhận anh V xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm, căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án anh Hồ Công V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Anh Hồ Công V được ly hôn với chị Lý Mai N.

2. Về con chung: Chị N tiếp tục nuôi con chung tên Hồ Thị Tố Q, sinh ngày 01/11/2010, hiện nay đang sống chung với chị N. Anh V không cấp dưỡng nuôi con.

Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con

3. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét

4. Về nợ chung: Ghi nhận anh V xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: anh Hồ Công V phải chịu 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0005098 ngày 23/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân. Chị N không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ