vanban.org

Bản án 341/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/03/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Tuyết N-Pham S"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
────────────
Bản án số: 341/2021/HNGĐ-ST!
Ngày: 18-3-2021
Về việc tranh chấp ly hôn

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thanh Minh.

Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 348/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 846/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2021; Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Tuyết N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số X đường D, Phường P, Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Pham S, sinh năm 1973; quốc tịch: Hoa Kỳ; nơi cư trú: Hoa Kỳ.

(Các đương sự vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

[1] Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, nguyên đơn bà Lê Tuyết N trình bày:

Bà và ông Pham S quen biết nhau từ tháng 01 năm 2017. Qua quá trình tìm hiểu, hai người tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn Số X1 do Ủy ban nhân dân Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25 tháng 8 năm 2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà chung sống hạnh phúc tại Việt Nam, đến tháng 9 năm 2017 thì ông Pham S trở về Hoa Kỳ, hai người giữ liên lạc thường xuyên qua điện thoại và email. Ông Pham S còn về Việt Nam thăm bà được thêm khoảng thời gian từ ngày 12 đến ngày 25 tháng 7 năm 2018. Sau khi ông Pham S về lại Hoa Kỳ thì giữa hai người phát sinh mâu thuẫn do khác biệt trong tư tưởng, quan điểm sống, kể từ đó hai người không còn chung sống cho đến hiện tại. Do không thể hàn gắn lại mối quan hệ và tình cảm vợ chồng, hai người không thể tiếp tục chung sống, mục đích hoon nhân hoàn toàn không đạt được nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn ông Pham S. Về con chung: Bà và ông Pham S không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Bà và ông Pham S không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản. [2] Tại bản tự khai ngày 17 tháng 11 năm 2020 (đã được Lãnh sự quán Việt Nam tại N, Hoa Kỳ xác nhận chữ ký), bị đơn ông Pham S trình bày về quan hệ hôn nhân đúng như lời trình bày của nguyên đơn bà Lê Tuyết N. Ông thừa nhận giữa vợ chồng ông đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tư tưởng và thực tế không còn chung sống với nhau từ tháng 7 năm 2018 đến nay. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng ông không thể hòa giải hay hàn gắn được nữa, tình cảm vợ chồng không còn nên không thể sống chung với nhau. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý. Ông và bà Lê Tuyết N không có con chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra chứng cứ công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn cùng lời trình bày của các đương sự tại bản khai, có cơ sở để xác định đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Bị đơn trong vụ án là ông Pham S hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ; nguyên đơn bà Lê Tuyết N cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Trước khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều đã có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt. Xét, yêu cầu và ý kiến của đương sự đã được thể hiện rõ trong bản khai, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn.

Trong vụ án này, các đương sự đã tự giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án; bị đơn trong vụ án là ông Pham S hiện đang định cư ở nước ngoài nhưng đã có bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; các đương sự cùng thừa nhận có mâu thuẫn và không còn thực tế chung sống, Tòa án không tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, không thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự, Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa.

[2] Về nội dung:

Căn cứ bản tự khai của các đương sự và Giấy chứng nhận kết hôn Số X1 do Ủy ban nhân dân Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25 tháng 8 năm 2017, có cơ sở để xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Tuyết N và ông Pham S được xác lập trên cơ sở tự nguyện là hợp pháp.

Theo trình bày của nguyên đơn bà Lê Tuyết N và bị đơn ông Pham S, sau khi kết hôn hai người chỉ chung sống hạnh phúc trong khoảng thời gian đầu, sau khi ông Pham S trở về Hoa Kỳ thì giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về tư tưởng, quan điểm sống. Hiện tại, mỗi người sinh sống ổn định ở một nơi và không còn ý định tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân, bà Lê Tuyết N khởi kiện yêu cầu được ly hôn, ông Pham S cũng đồng ý.

Xét thấy, bà Lê Tuyết N và ông Pham S không còn chung sống, mỗi người sinh sống một nơi dẫn đến vợ chồng không thể thực sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh mà không thể giải quyết được, cả hai đều mong muốn ly hôn chứng tỏ khả năng hàn gắn, đoàn tụ gia đình đã không còn. Hội đồng xét xử sơ thẩm xét thấy có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết cho bà Lê Tuyết N được ly hôn với ông Pham S.

Về con chung: Bà Lê Tuyết N và ông Pham S cùng trình bày giữa hai người không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Các đương sự trình bày không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Tòa án không xem xét.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Tuyết N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

- Căn cứ Khoản 2 Điều 21, Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Khoản 1 Điều 37, Điểm c Khoản 1 Điều 40, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các điều 19, 56, 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự. I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Tuyết N: 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Tuyết N được ly hôn ông Pham S. Giấy chứng nhận kết hôn Số X1 do Ủy ban nhân dân Quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25 tháng 8 năm 2017 không còn giá trị pháp lý. 2. Về con chung: Các đương sự trình bày giữa hai người không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. 3. Về quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. II. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Tuyết N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đương sự đã nộp theo Biên lai thu tiền số X3 ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, đương sự đã thi hành xong án phí sơ thẩm. III. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Tuyết N có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; bị đơn ông Pham S cư trú ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để được xem xét lại vụ án theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ