vanban.org

Bản án 340/2026/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mũi K đối với bà Lê Thị U về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Lê Thị U có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Mũi K số tiền nợ gốc 95.000.000 (chín mươi lăm triệu) đồng, tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày 03 tháng 9 năm 2026 số tiền 17.707.000 (mười bảy triệu bảy trăm linh bảy nghìn) đồng; tổng cộng 112.707.000 (một trăm mười hai triệu bảy trăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Thị Mũi K - Lê Thị U"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mũi K đối với bà Lê Thị U về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 340/2026/DS-ST
Ngày: 03-9-2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Út.

2. Ông Trần Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Duy Khanh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Giàu - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 523/2026/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2026 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 416/2026/QĐXX-ST ngày 10 tháng 8 năm 2026 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mũi K, sinh ngày 01/8/1989, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cư trú tại: Ấp S, xã T, tỉnh Tây Ninh (nay là ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh); có mặt.

2. Bị đơn: Bà Lê Thị U, sinh ngày 01/01/1976, căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, cư trú tại: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 01/4/2026 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Ngày 22/4/2024, bà cho bà Lê Thị U vay số tiền 100.000.000 đồng, thỏa thuận bằng lời nói lãi suất 02%/tháng, thời hạn vay 06 tháng; trả nợ gốc, tiền lãi ngày 22/10/2024. Hợp đồng vay có lập thành văn bản, không công chứng, chứng thực. Nội dung giấy nợ do bà viết, bà U ký tên, không ghi họ tên. Sau khi vay, bà U không trả lãi, nợ gốc số tiền nào. Nay bà yêu cầu bà U trả nợ gốc 100.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 1,5%/tháng từ ngày 22/4/2024 đến khi kết thúc vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Lê Thị U trình bày:

Ngày 22/4/2024, bà vay bà Phạm Thị Mũi K số tiền 100.000.000 đồng có viết giấy nợ, bà có ký tên. Trong đó bà vay 30.000.000 đồng sử dụng cá nhân, vay giúp bà Lê Thị D số tiền 70.000.000 đồng; tiền lãi 9.000.000 đồng/tháng, thời gian vay 06 tháng. Sau khi vay, bà và bà D đóng lãi được khoảng hơn 01 năm các bên thỏa thuận giảm tiền lãi 5.000.000 đồng/tháng. Bà và bà D tiếp tục trả lãi đến khoảng cuối năm 2025 thì ngưng đến nay và đã trả cho bà K được 10.000.000 đồng nợ gốc. Bà không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc trả lãi, nợ gốc. Bà đồng ý trả cho bà K số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi mức lãi suất 1,5%/tháng từ ngày 22/4/2024 đến khi kết thúc vụ án.

Tại phiên tòa: Bà Phạm Thị Mũi K trình bày cho bà Lê Thị U vay 100.000.000 đồng. Đến ngày 22/4/2024, các bên viết giấy nợ, bà U đã trả nợ gốc 5.000.000 đồng, còn nợ 95.000.000 đồng. Bà yêu cầu bà U trả số tiền nợ gốc 95.000.000 đồng, yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 1,5%/tháng từ ngày 22/4/2024 đến khi kết thúc vụ án. Bà U đồng ý trả cho bà K số tiền nợ gốc 95.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11–Tây Ninh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ vụ án theo quy định; xác định quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, người tham gia tố tụng; xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ án; thực hiện đúng thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mũi K đối với bà Lê Thị U về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc bà U có nghĩa vụ trả cho bà K số tiền 95.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất 0,83%/tháng từ ngày 22/4/2024 đến ngày xét xử.

Về án phí: Bà K, bà U phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Mũi K khởi kiện bà Lê Thị U, địa chỉ nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Tây Ninh yêu cầu trả số tiền vay, tiền lãi. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.

Xét hợp đồng vay tài sản: Nguyên đơn cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ là 01 “Giấy mượn tiền” ghi ngày 22/4/2024 giữa bên cho vay Phạm Thị Mũi K, bên vay Lê Thị U, số tiền vay 100.000.000 đồng. Bị đơn thừa nhận chữ ký trên giấy nợ do nguyên đơn cung cấp. Căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Hợp đồng vay tài sản giữa các bên có đủ các điều kiện quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự và có hiệu lực pháp luật.

Bà U trình bày vay giúp bà Lê Thị D số tiền 70.000.000 đồng; trả lãi đến khoảng cuối năm 2025 và trả nợ gốc 10.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, bà D thừa nhận việc nhờ bà U vay bà K số tiền 70.000.000 đồng, đã trả lãi và trả nợ gốc 10.000.000 đồng (mỗi người 5.000.000 đồng) nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.

Tại phiên tòa, bà K thừa nhận việc bà U trả nợ gốc số tiền 5.000.000 đồng, không thừa nhận việc cho bà D vay số tiền 70.000.000 đồng, không thừa nhận việc trả lãi. Mặt khác giấy nợ ghi ngày 22/4/2024 thể hiện bên vay bà U; không có chữ ký và không thể hiện thông tin người vay Lê Thị D. Trường hợp bà U phát sinh tranh chấp có quyền khởi kiện bà D trong vụ án dân sự khác.

Bà U không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc trả nợ gốc, tiền lãi. Lời trình bày của bà U là không có căn cứ chấp nhận. Kết thúc kỳ hạn vay, bà U không trả đủ tiền khi đến hạn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự, bà K yêu cầu bà U trả số tiền nợ gốc 95.000.000 đồng là có căn cứ.

Xét yêu cầu tính lãi: Các bên thỏa thuận thời hạn vay 06 tháng, không thỏa thuận lãi suất vay. Hội đồng xét xử xác định hợp đồng vay tài sản là không có lãi, có kỳ hạn. Khi đến hạn bà U không trả nợ, bà K có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất 10%/năm trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày 23/10/2024 (ngày tiếp theo liền kề của ngày hết kỳ hạn vay). Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Điều 6 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bà U có nghĩa vụ trả lãi từ ngày 23/10/2024 đến ngày 03/9/2026 số tiền 95.000.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 10 tháng 11 ngày = 17.706.944 đồng, tính tròn 17.707.000 đồng.

Bà K yêu cầu bà U trả lãi mức lãi suất 1,5%/tháng từ ngày 22/4/2024 là không phù hợp. Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu trả lãi số tiền (95.000.000 đồng x 1,5%/tháng x 02 năm 04 tháng 12 ngày) - 17.707.000 đồng = 22.763.000 đồng.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà U có nghĩa vụ trả cho bà K số tiền nợ gốc 95.000.000 đồng, tiền lãi 17.707.000 đồng, tổng cộng 112.707.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K về việc yêu cầu bà U trả số tiền lãi 22.763.000 đồng.

Án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Bà U phải chịu 112.707.000 đồng x 05% = 5.635.350 đồng, tính tròn 5.635.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà K phải chịu 22.763.000 đồng x 05% = 1.138.150 đồng án phí dân sự sơ thẩm khấu trừ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 3.451.725 đồng, bà K được nhận lại số tiền chênh lệch 2.313.575 đồng, tính tròn 2.314.000 đồng.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự; các điều 5, 6, 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mũi K đối với bà Lê Thị U về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Lê Thị U có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị Mũi K số tiền nợ gốc 95.000.000 (chín mươi lăm triệu) đồng, tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày 03 tháng 9 năm 2026 số tiền 17.707.000 (mười bảy triệu bảy trăm linh bảy nghìn) đồng; tổng cộng 112.707.000 (một trăm mười hai triệu bảy trăm linh bảy nghìn) đồng.

Kể từ ngày 04 tháng 9 năm 2026 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mũi K về việc yêu cầu bà Lê Thị U trả số tiền lãi 22.763.000 (hai mươi hai triệu bảy trăm sáu mươi ba nghìn) đồng.

3. Án phí: Bà Lê Thị U phải chịu 5.635.000 (năm triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Phạm Thị Mũi K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.138.150 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 3.451.725 đồng theo biên lai số 0007995 ngày 16 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh); bà K được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 2.313.575 đồng, tính tròn 2.314.000 (hai triệu ba trăm mười bốn nghìn) đồng.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ