- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 340/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16-6-2023 V/v: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Hồng Cúc
2. Ông Trịnh Hoàng Giang
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Đình Nguyên - Thư ký Toà án nhân dân
huyện Giồng Riềng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang
tham gia phiên tòa: Bà Trương Hồng Diễm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng
Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý
số: 576/2022/TLST - HNGĐ, ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly
hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2023/QĐXX-
ST, ngày 04 tháng 5 năm 2023; giữa:
-.Nguyên đơn: chị Trần Ngọc Th, sinh năm: 1989 (có mặt)
Nơi cư trú: ấp HT, xã VP, huyện GR, tỉnh KG
- Bị đơn: Anh Đàm Văn H, sinh năm: 1983 (vắng mặt).
Nơi cư trú ấp HT, xã VP, huyện GR, tỉnh KG.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên Tòa, nguyên đơn chị Trần Ngọc Th trình
bày: chị và anh Đàm Văn H tự tìm hiểu quen biết trước và được gia đình cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phú, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống cũng hạnh phúc nhưng dần về sau thì cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, giữa vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm lẫn nhau, mâu thuẫn trong vấn đề tiền bạc. Nhận thấy giữa chị và anh H không thể nào tiếp tục chung sống hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn anh H. Về con chung, chị và anh H có với nhau hai con chung tên Đàm Trần Nguyệt Tr, sinh ngày 25/5/2009 và Đàm Trần Anh Th1, sinh ngày 10/4/2018. Tại thời điểm nộp đơn khởi kiện các con vẫn sống chung trong gia đình nhưng hiện nay chị đã dọn ra ngoài sinh sống với hai con. Chị Th cho rằng giữa chị và anh H không có tiếng nói chung, tiếp tục chung sống cũng không mang lại hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh H. Đối với con chung chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng và xét theo ý kiến của con, chị Th không yêu cầu anh H cấp dưỡng. Về tài sản và nợ chung, chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Đàm Văn H không giao nộp văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu
cầu khởi kiện của chị Trần Ngọc Th
Phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng
Riềng:
Về trình tự thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội
đồng xét xử, nguyên đơn được thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 70 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án:
Về hôn nhân: Chị Trần Ngọc Th và anh Đàm Văn H tự tìm hiểu quen biết
và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Phú, huyện Giồng Riềng chứng nhận kết hôn nên hôn nhân giữa chị Th và anh H là hợp pháp. Chị Th cho rằng giữa chị và anh H mâu thuẫn trong vấn đề tiền bạc nên thường xuyên cải nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Kể từ khi khởi kiện đến nay anh H cũng không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nên xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng của chị Th và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích xây dựng hôn nhân lâu dài bền vững không đạt được nên chị Th yêu cầu ly hôn anh H là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận cho chị Th ly hôn anh H.
Về con chung: chị Th xác định chị và anh H có hai con chung tên Đàm Trần
Nguyệt Tr, sinh ngày 25/5/2009 và Đàm Trần Anh Th, sinh ngày 10/4/2018. Chị Th yêu cầu được quyền nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng và xét theo ý kiến của cháu Tr. Tại bản khai, cháu Tr có ý kiến được sống với chị Th
và hiện tại các con đang sống với chị Th. Anh H không có ý kiến phản đối cho
rằng chị Th không đủ điều kiện nuôi con nên đề nghị áp dụng Điều 81 của Luật
hôn nhân và gia đình, xem xét giao hai con chung Đàm Trần Nguyệt Tr, sinh ngày
25/5/2009 và Đàm Trần Anh Th1, sinh ngày 10/4/2018 cho chị Th trực tiếp nuôi
dưỡng. Chị Th không yêu cầu anh H cấp dưỡng nên đề nghị không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Th xác định không yêu cầu Tòa án giải
quyết và anh H cũng không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: buộc chị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về trình tự thủ tục tố tụng: chị Trần Ngọc Th khởi kiện yêu cầu ly hôn,
được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung với anh Đàm Ngọc H nên đây là tranh
chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con chung được quy định tại khoản 1
Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và anh H với tư cách là bị đơn trong vụ kiện
có nơi cư trú tại huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ kiện
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên
Giang.
Bị đơn anh Đàm Văn H hiện đang sinh sống tại ấp Huỳnh Tố, xã Vĩnh Phú,
huyện Giồng Riềng. Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng đã tống đạt các văn bản
tố tụng của Tòa án cho anh H nhưng không thực hiện được do anh H không có mặt
tại nhà. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng đã tiến hành niêm yết công
khai các văn bản tố tụng trên theo quy định của pháp luật nhằm thông tin nội dung
vụ kiện, các yêu cầu của chị Th để anh H biết và có ý kiến phản hồi nhưng anh H
vắng mặt qua các lần công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa xét xử
không có lý do. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng tiến hành đưa vụ kiện
ra xét xử vắng mặt anh H là hoàn toàn phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2
Điều 227, điểm b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự .
Về nội dung vụ kiện:
Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Ngọc Th và anh Đàm Văn H tự tìm hiểu
quen biết trước và tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban
nhân dân xã Vĩnh Phú, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang chứng nhận kết hôn
nên hôn nhân của anh, chị được xem là hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị
Th và anh H phát sinh nhiều mâu thuẫn đã được chị Th xác định trong quá trình
khởi kiện và tại biên bản lấy lời khai tại Tòa án . Riêng anh H không giao nộp văn
bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Th. Theo quy định tại khoản
2 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác
đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Nhưng anh H không có ý kiến phản đối cũng như cung cấp tài liệu chứng cứ gì. Mặc dù, nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày chị Th là do vợ chồng thường xuyên cải nhau liên quan đến tiền bạc, không có tiếng nói chung giữa vợ chồng . Từ đó làm cho tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, không còn thương yêu quan tâm lẫn nhau. Hiện tại giữa chị Th và anh H đã không còn chung sống vợ chồng nên có đủ căn cứ để chứng minh đời sống vợ chồng của chị Th không thể kéo dài, mục đích xây dựng hôn nhân lâu dài bền vững không đạt được. Và kể từ thời điểm chị Th khởi kiện, anh H cũng không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, mặc dù Tòa án đã triệu tập anh để tham gia hòa giải nhưng anh vắng mặt. Xét thấy, chị Th và anh H đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng nên chị Th yêu cầu được ly hôn với anh H là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Th được ly hôn anh H.
Về con chung, chị Th xác định chị và anh H có hai con chung tên Đàm
Trần Nguyệt Tr, sinh ngày 25/5/2009 và Đàm Trần Anh Th, sinh ngày 10/4/2018. Hiện các con đang sống với chị Th Anh H không có ý kiến gì về con nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà chị Th cung cấp là giấy khai sinh của hai cháu Tr và Th1, trên giấy thể hiện anh H và chị Th là cha mẹ của các cháu. Từ đó, có cơ sở để xác định các cháu Đàm Trần Nguyệt Tr, sinh ngày 25/5/2009 và Đàm Trần Anh Th, sinh ngày 10/4/2018 là con chung của chị Th và anh H. Chị Th yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con nhưng xét theo nguyện vọng của con. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện tại các con đang sống cùng chị Th, các cháu vẫn phát triển tốt, anh H cũng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu của chị Th về quyền nuôi con. Tại bản khai, cháu Tr trên 07 tuổi có ý kiến được tiếp tục sống cùng với chị Th. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử giao hai cháu sinh ngày Đàm Trần Nguyệt Tr, sinh ngày 25/5/2009 và Đàm Trần Anh Th1, sinh ngày 10/4/2018. Anh H không cấp dưỡng nuôi con do chị Th không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh H được quyền đến thăm nom, chăm sóc, dạy dỗ con chung, không ai có quyền cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: chị Th xác định không yêu cầu Tòa án
giải quyết. Anh H cũng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, trường hợp sau này có tranh chấp thì khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a
khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí; Án phí ly hôn sơ thẩm chị Th phải nộp là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị Th
đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0003054 ngày 05 tháng 10 năm
2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng. Chị Th đã nộp đủ án phí
ly hôn sơ thẩm nên không phải nộp thêm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014; Xử:
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Ngọc Th được ly hôn với
anh Đàm Văn H.
2.Về con chung: xử giao cháu Đàm Trần Nguyệt Tr, sinh ngày 25/5/2009 và
Đàm Trần Anh Th1, sinh ngày 10/4/2018 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng ( xét
theo ý kiến của cháu Tr được sống với chị Th). Anh H không cấp dưỡng nuôi con
do chị Th không yêu cầu.
Anh Đàm Văn H được quyền đến thăm nom, chăm sóc, dạy dỗ con chung
không ai có quyền cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Ngọc Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị
Th đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0003054 ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Giồng Riềng. Chị Th đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm nên không
phải nộp thêm.
Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật
định là 15 (mười lăm), chị Th được tính kể từ ngày tuyên án (16-6-2023) anh H
được tính kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết
theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - Viện kiểm sát nhân dân huyện; - Cơ quan Thi hành án huyện; - Các đương sự; - Ủy ban nhân dân xã; - Lưu. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Hƣơng |