- Tranh chấp gì? "Nguyễn Quốc M - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
TO N N N D N
C N O
C N
V T N M K U VỰC 3 -P Ú T Ọ
c p – T d – nh ph c Bản án số: 34/2026/HS-ST Ngày 10 tháng 3 năm 2026
NHÂN DANH
NƯỚC C N O
C N
V T N M
TO N N N D N K U VỰC 3 - P Ú T Ọ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bình Luyến.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Minh Huyền;
2. Bà Tống Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Kiều Huyền Phương - Thư ký, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 3 - Phú Thọ, tham gia phiên toà: Ông Đỗ Đức Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 3 năm 2026, Tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2026/TLST-HS ngày 26/02/2026; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2026/QĐXXST-HS ngày 27/02/2026 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Quốc M; Sinh ngày: 28/7/1979, tại tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu G, xã D, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Số CCCD: 025079009929, cấp ngày 09/5/2021, nơi cấp: Cục Q về TTXH; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Minh T (đã chết); Mẹ đẻ: Hoàng Thị S; Vợ: Ngô Thị L, sinh năm 1982; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Tại Bản án số: 79/2015/HSST ngày 24/4/2015 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xử phạt M 02 năm tù, về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2016 theo Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 709 của Trại giam A1 - Tổng cục V, đã nộp án phí vào ngày 21/7/2015; Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 02/11/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh P, (Có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Ngô Thị L, sinh năm 1982; Địa chỉ: khu G, xã D, tỉnh Phú Thọ, ( Vắng mặt).
N DUN VỤ N:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ ngày 02/11/2025, Tổ công tác Công an xã D, tỉnh Phú Thọ đang làm nhiệm vụ tại đoạn đường thuộc khu C, xã D, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện Nguyễn Quốc M, sinh năm 1979, nơi thường trú: Khu G, xã D, tỉnh Phú Thọ có biểu hiện nghi vấn đến ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, M khai nhận bản thân đang tàng trữ trái phép chất ma tuý và tự giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, được gói kín, bên trong gói giấy có chứa chất bột, cục màu trắng (M khai nhận đây là ma túy Heroine, tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân). Công an xã D đã mời người chứng kiến, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Quốc M đồng thời thu giữ, niêm phong những vật chứng sau: 01 gói giấy có đặc điểm như nêu trên; 01 xe mô tô nhãn hiệu DAEHANIKD, biển số 19AN-006.70.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm test nhanh chất ma túy đối với Nguyễn Quốc M bằng que test. Kết quả: M âm tính với các chất ma túy (M khai nhận bản thân có sử dụng ma túy, tuy nhiên đã lâu không còn sử dụng). Qua xác minh tại Trung tâm kiểm soát dịch bệnh tỉnh P, M không nằm trong danh sách điều trị cai nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế; xác minh tại UBND xã D, M không nằm trong danh sách quản lý sau cai nghiện.
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định đối với chất bột, cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Quốc M đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của M (quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì). Tại bản kết luận giám định số 3113/KL-KTHS ngày 04/11/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh P kết luận: “Chất bột cục màu trắng bên trong 01 (một) gói giấy mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng trong phong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,209 gam (không phảy hai không chín gam).
* Heroine (H): số thứ tự 9, Danh mục IA, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ…”
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc M khai nhận nguồn gốc số ma túy bị thu giữ và mục đích sử dụng như sau: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy Heroine nên qua hỏi bạn bè M biết được tại khu vực sau Trung tâm cai nghiện ma túy cơ sở B tỉnh Phú Thọ thuộc khu C, xã D, tỉnh Phú Thọ có người bán ma túy. Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/11/2025, M một mình điều khiển xe gắn máy nhãn hiệu DAEHANIKD, biển số 19AN- 006.70 đến khu vực đoạn đường phía sau Cơ sở điều trị nghiện ma túy cơ sở 2 tỉnh Phú Thọ để tìm mua ma túy Heroine. Khi đến nơi, M gặp một người đàn ông đứng ở ven đường, M không biết tên, địa chỉ người này, không liên hệ trước, chỉ biết người này khoảng 40 tuổi, đội mũ cối, đeo khẩu trang. M hỏi mua ma túy Heroine thì người này đồng ý. Sau đó M đưa cho người đàn ông này 500.000 đồng, người này đưa cho M 01 gói giấy bạc màu trắng nói là ma túy Heroine, M cầm gói ma túy Heroine và trên đường đi về, M dừng xe mô tô mở gói ma túy để kiểm tra thì bị lực lượng công an xã D kiểm tra, bắt quả tang như đã nêu trên.
T i bản cá tr ng số: 01/CT-VKSKV3 ngày 26 tháng 02 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ, truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Minh, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng;
- Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố; Sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc M, phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Về điều luật áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc M từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 02/11/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu huỷ: 01 túi niêm phong được dán kín có mã số PS3 24024048, bên ngoài có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan, bên trong có 0,160gam chất bột màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
- Trả lại cho chị Ngô Thị L 01 xe mô tô nhãn hiệu Deahanikd, màu sơn xanh, biển số 19AN 006.70.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
N ẬN ỊN C TO N:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Công an xã D, tỉnh Phú Thọ; Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Phú Thọ, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 16 giờ 10 phút ngày 02/11/2025 tại khu C, xã D, tỉnh Phú Thọ. Nguyễn Quốc M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,209gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã D, tỉnh Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của Nguyễn Quốc M đã phạm vào tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự. Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, C, M1, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xét thấy, bị cáo phạm loại tội nghiêm trọng. Bị cáo đã bị Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù, về tội: “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm loại tội về ma tuý, mặc dù không phải chịu tình tiết tặng nặng nhưng cần căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên cần thiết phải xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo từ bỏ ma tuý, cải tạo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội là hoàn toàn phù hợp pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Quốc M. Ngoài lời khai của M không có chứng cứ nào khác nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
[4]. Về xử lý vật chứng:
- Ma tuý là chất nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ 0,160 gam chất bột màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, là mẫu vật hoàn lại sau giám định,là phù hợp.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Deahanikd, màu sơn xanh, biển số 19AN 006.70 của chị Ngô Thị L (vợ của bị cáo), bị cáo đã tự ý lấy để đi mua ma tuý, chị L không biết nên cần trả lại cho chị Ngô Thị L 01 xe mô tô nhãn hiệu Deahanikd, màu sơn xanh, biển số 19AN 006.70, là phù hợp.
[5]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[6]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp.
V× c¸c lÏ trªn,
QUYẾT ỊN :
Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc M, phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc M 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 02/11/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu huỷ: 01 túi niêm phong được dán kín có mã số PS3 24024048, bên ngoài có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K, Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan, bên trong có 0,160gam chất bột màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, là mẫu vật hoàn lại sau giám định.
- Trả lại cho chị Ngô Thị L 01 xe mô tô nhãn hiệu Deahanikd, màu sơn xanh, biển số 19AN 006.70.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/03/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 - Phú Thọ).
* Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc M phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND khu vực 3 - Phú Thọ; - Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Phú Thọ; - Công an tỉnh Phú Thọ; - Sở Tư Pháp tỉnh Phú Thọ; - THADS tỉnh Phú Thọ; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, AV. | T.M ỒN ÉT Ử SƠ T ẨM T ẨM P N - C TỌ P ÊN TÒ Nguyễn Bình Luyến |