vanban.org

Bản án 34

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Vi VĂn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ P
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 34/2021/HS - ST
Ngµy 31/3/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ P, TỈNH NGHỆ AN

Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

- ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ: ¤ng NguyÔn V¨n Th¶o.

- C¸c Héi thÈm nh©n d©n: 1- Ông Lang Văn Hải.

2 - Ông Mong Thái Dương.

- Th ký phiªn toµ: Bà Vi Thị Nhuần - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- §¹i diÖn Viện kiểm sát nhân dân huyÖn QuÕ P tham gia phiªn toµ: Bà Lang Thị Ngọc Trang - KiÓm s¸t viªn.

Trong ngµy 31 th¸ng 3 n¨m 2021, t¹i trô së Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn QuÕ P, tỉnh Nghệ An xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n H×nh sù thô lý sè 17/2021/TLST - HS ngµy 01 th¸ng 3 n¨m 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST - HS ngày 17 tháng 3 năm 2021 ®èi víi bÞ c¸o:

Vi Văn T - Sinh n¨m 1974 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. nghÒ nghiÖp: Trồng trọt; tr×nh ®é v¨n hãa: Lớp 3/10; d©n téc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con «ng: Vi Văn X (Đã chết); con bà: Vi Thị P (đã chết); Vợ: Lô Thị H - sinh năm 1976; trú tại: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; con: Có 02 người con. Lớn nhất sinh năm 1994; nhỏ nhất sinh năm 1997; tiÒn ¸n, tiÒn sù: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2020. Cã mÆt.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang - Trợ giúp viên pháp lý.

Công tác tại: Chi nhánh số 2 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Lô X D - Sinh năm 1961.

Nơi cư trú: Bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 20 tháng 12 năm 2020, Vi Văn T đi từ nhà đến khu vực đồi núi thuộc xã Châu Thôn, huyện Q thì gặp hai người đàn ông dân tộc H’Mông không quen biết, T hỏi và mua với một trong hai người này một gói hê rô in với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Vi Văn T đưa về nhà cất dấu và đã lấy ra sử dụng được 04 lần, số còn lại cất dấu trong túi áo khoác. Đến khoảng 10 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2012, trong khi Vi Văn T đang ở nhà thì có một nam, thanh niên không quen biết đến hỏi mua ma túy với số tiền là 50.000 đồng. T cầm tiền rồi lấy gói ma túy ra chuẩn bị đưa cho người thanh niên đó thì bị Tổ công tác Công an xã C, huyện Q phát hiện bắt quả tang. Lợi dụng sự sơ hở, nam thanh niên đến mua ma túy với T đã chạy thoát. Vật chứng thu giữ là một gói chất bột màu trắng (nghi là hê rô in) và số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng).

Bản kết luận giám định số: 69/KL - PC09 (Đ2-MT) ngày 27/12/2020 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận:

“Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Vi Văn T gửi tới giám định là ma túy (Hê rô in). Số chất bột màu trắng (01 gói) thu giữ của Vi Văn T có khối lượng là 0,06 gam (Không phẩy không sáu gam).

Tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể:

Sáng ngày 20 tháng 12 năm 2020, Vi Văn T đi từ nhà đến khu vực đồi núi thuộc xã Châu Thôn, huyện Q thì gặp hai người đàn ông dân tộc H’Mông không quen biết, T hỏi và mua với một trong hai người này một gói hê rô in với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Vi Văn T đưa về nhà cất dấu và đã lấy ra sử dụng được 04 lần, số còn lại cất dấu trong túi áo khoác. Đến khoảng 10 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2012, trong khi Vi Văn T đang ở nhà thì có một nam, thanh niên không quen biết đến hỏi mua ma túy với số tiền là 50.000 đồng. T cầm tiền rồi lấy gói ma túy ra chuẩn bị đưa cho người thanh niên đó thì bị Tổ công tác Công an xã C, huyện Q phát hiện bắt quả tang. Lợi dụng sự sơ hở, nam thanh niên đến mua ma túy với T đã chạy thoát. Vật chứng thu giữ là một gói hê rô in có khối lượng là 0,06 gam (Không phẩy không sáu gam) và số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) do T bán ma túy mà có. Mục đích của bị cáo mua bán trái phép chất ma túy là để kiếm tiền lời và để có tiền mua ma túy sử dụng cho bản thân.

Đối với hai người đàn ông dân tộc H’Mông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Vi Văn T (theo lời khai của T) và nam thanh niên đến mua ma túy với T, do không xác minh được họ tên, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

Cáo trạng số 25/CT - VKS - HS, ngày 26/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Vi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như bản cáo trạng đã kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Q tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vi Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng; miÔn ph¹t tiÒn bổ sung cho bÞ c¸o. Buộc bị cáo phải chịu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ng êi bµo ch÷a cho bị cáo Vi Văn T không tranh luận về tội danh. Về hình phạt, đề nghị áp dụng khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vi Văn T đầu khung hình phạt là 24 tháng tù; đề nghị xử lý vật chứng; miÔn ph¹t tiÒn bổ sung cho bÞ c¸o.

BÞ c¸o Vi Văn T kh«ng cã ý kiÕn tranh luËn hay đối đáp víi quan ®iÓm cña kiÓm s¸t viªn, chØ xin héi ®ång xÐt xö giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, của Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người bào chữa và bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về nội dung vụ án: Sáng ngày 20 tháng 12 năm 2020, Vi Văn T đi từ nhà đến khu vực đồi núi thuộc xã Châu Thôn, huyện Q thì gặp hai người đàn ông dân tộc H’Mông không quen biết, T hỏi và mua với một trong hai người này một gói hê rô in với giá 700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Vi Văn T đưa về nhà cất dấu và đã lấy ra sử dụng được 04 lần, số còn lại cất dấu trong túi áo khoác. Đến khoảng 10 giờ ngày 21 tháng 12 năm 2012, trong khi Vi Văn T đang ở nhà thì có một nam, thanh niên không quen biết đến hỏi mua ma túy với số tiền là 50.000 đồng. T cầm tiền rồi lấy gói ma túy ra chuẩn bị đưa cho người thanh niên đó thì bị Tổ công tác Công an xã C, huyện Q phát hiện bắt quả tang. Lợi dụng sự sơ hở, nam thanh niên đến mua ma túy với T đã chạy thoát. Vật chứng thu giữ là một gói hê rô in có khối lượng là 0,06 gam (Không phẩy không sáu gam) và số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) do T bán ma túy mà có. Mục đích của bị cáo mua bán trái phép chất ma túy là để kiếm tiền lời và để có tiền mua ma túy sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sự độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Do đó bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:

Hành vi phạm tội cña bÞ c¸o x©m ph¹m trực tiếp đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về chất gây nghiện mà còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nòi giống của con người, g©y ¶nh h ëng ®Õn trËt tù an toµn x· héi. BÞ c¸o ý thøc ® îc hµnh vi cña m×nh lµ tr¸i ph¸p luËt nh ng vÉn cè t×nh thùc hiÖn téi ph¹m nh»m thỏa mãn cơn nghiện thấp hèn của bản thân và kiếm lời. Do vËy bÞ c¸o ph¶i chÞu tr¸ch nhiÖm h×nh sù. Hành vi phạm tội cuả bị cáo là nghiêm trọng. Vì vậy cần xét xử nghiêm và lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo vµ biÖn ph¸p c¸ch ly bÞ c¸o ra khái x· héi mét thêi gian lµ cÇn thiÕt để bị cáo có điều kiện đi cai nghiện, cải tạo bản thân thành người có ích cho gia đình, xã hội vµ r¨n ®e, phßng ngõa chung tình trạng tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng trong thời gian gần đây trên địa bàn huyện miền núi, biên giới Quế P. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như t¹i phiªn toµ, bị cáo khai b¸o thµnh khÈn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xÐt gi¶m nhÑ mét phÇn h×nh ph¹t cho bÞ c¸o ®Ó thÓ hiÖn chính sách khoan hång vµ nh©n ®¹o cña nhà nước.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị xử phạt bị cáo Vi Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát như vậy đối với bị cáo là hợp lý.

- VÒ h×nh ph¹t bæ sung: Tại khoản khoản 5 điểu 251 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản,”. Do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, không có tài sản gì giá trị để đảm bảo cho việc thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Vật chứng thu giữ của bị cáo là một gói hê rô in có khối lượng 0,06 gam (Không phẩy không sáu gam). Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Q đã lấy toàn bộ số lượng ma túy đi giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên hội đồng xét xử không xem xét. Số vỏ bao ni lông màu hồng và vỏ P bì niêm P vật chứng ban đầu thu giữ của Vi Văn T không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là tiền bị cáo Vi Văn T thu lợi bất chính do hành vi phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 1 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với hai người đàn ông dân tộc H’Mông có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Vi Văn T (theo lời khai của T) và nam thanh niên đến mua ma túy với T, do không xác minh được họ tên, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

- VÒ ¸n phÝ: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 135; khoản 2 điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYẾT ĐINH:

Tuyªn bè bị cáo Vi Văn T ph¹m téi: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm khoản 1 điều 251; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Vi Văn T - 24 tháng tù.

Thêi hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 21/12/2020.

- Căn cứ điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy một P bì thư bưu điện được niêm P nguyên vẹn, bên trong đựng mảnh bao ni lông màu hồng và vỏ P bì niêm P vật chứng ban đầu thu giữ của Vi Văn T không còn giá trị sử dụng.

Chi tiết vật chứng trên được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2021 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q với Chi cục thi hành án dân sự huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Căn cứ điểm b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu số tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) đối với bị cáo Vi Văn T nộp ngân sách nhà nước.

Chi tiết vật chứng trên được ghi cụ thể trong biên bản giao nhận tài sản ngày 08/01/2021 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Q với Kho bạc nhà nước huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Căn cứ vào điều 135; khoản 2 điều 136 Bé luËt tè tông h×nh sù; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm,, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buéc bÞ c¸o Vi Văn T ph¶i chÞu ¸n phÝ h×nh sù s¬ thÈm là 200.000 ®ång (Hai tr¨m nghìn ®ång).

BÞ c¸o Vi Văn T có quyÒn kh¸ng c¸o lªn Toµ ¸n nh©n d©n tØnh NghÖ An trong thời h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n./. N¬i nhËn:

t.m héi ®ång xÐt xö

- BÞ c¸o; Người bào chữa;

thÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ

- VKSND huyện QuÕ P;

- Công an huyện QuÕ P;

- Chi cục THA DS huyện QuÕ P;

- Lưu Văn phòng, THAHS; Hå s¬ vụ án.

NguyÔn V¨n Th¶o

Cỡ chữ