vanban.org

Bản án 34/HSST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 25/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ phạm tội "§¸nh b¹c”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 15 (Mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ; (được trừ 06 ngày tạm giữ, bằng 18 ngày Cải tạo không giam giữ); thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ cßn l¹i lµ 14 (Mười bốn) th¸ng 12 (Mười hai) ngày; thêi gian chÊp hµnh h×nh ph¹t C¶i t¹o kh«ng giam gi÷ tÝnh tõ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN ĐỨC N CÙNG ĐỒNG PHẠM - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ phạm tội "§¸nh b¹c”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 34/2022/HSST
Ngày 25 tháng 05 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Thiện Thành

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Hiến và ông Nguyễn Văn Tăng

Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Hồng Mơ - là thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 25/5/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2022/HSST ngày 27/4/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đức N (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1983; tại xã G, huyÖn V, tØnh N; Nơi cư trú xóm Đ, xã G, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (Đã chết) vµ bµ Nguyễn Thị Q; có vợ Đinh Thị N và có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 677/QĐ-CT ngày 20/7/2009, Chủ tịch UBND huyện V, tỉnh N áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Quyết định số 175/QĐ-XPHC ngày 05/9/2012, Công an huyện V, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy". Quyết định số 52/QĐXP ngày 18/6/2017, Đồn Công an KCN G, Công an huyện V, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi "Đánh bạc". Quyết định số 78/QĐXP ngày 05/01/2019, Công an huyện V, tỉnh N xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Đánh bạc"; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Mạnh H (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1981; tại xã G, huyện V, tỉnh N; Nơi cư trú xóm 4, xã G, huyÖn V, tØnh N; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Triệu T vµ bµ Lê Thị T; có vợ Nghiêm Thị H và có 02 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Thanh Đ (Tên gọi khác không), sinh n¨m 1977; tại phường Q, quận H, thành phố H; Nơi cư trú số 5 dãy U, ngõ 22 N, tổ 15, phường Q, quận H, thành phố H; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Như T vµ bµ Trần Thị N (Đều đã chết); có vợ Nguyễn Thị B và có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 10/02/2022 đến ngày 16/02/2022 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Anh Lê Huy D (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ đều là lái xe của Công ty Cổ phần quốc tế P. Khoảng 12 giờ ngày 10/02/2022 N, H và Đ, sau khi ăn cơm tại nhà điều hành của bãi xe Công ty CPQT P trong khu Công nghiệp G thuộc xã G, huyện V, tỉnh N. N nhìn thấy bộ tú lơ khơ 52 quân đang để trên chiếu trong phòng điều hành, nên nảy sinh ý định đánh bạc được thua bằng tiền. N nói với H và Đ: “Anh em làm tý Liêng” – ý rủ H và Đ đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh “Liêng”, thì H và Đ đồng ý. Sau đó, cả ba ngồi xuống chiếu và đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền, quy định mức chơi thấp nhất cho mỗi người là 10.000 đồng, mức cao nhất là 100.000 đồng. Khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi N, H và Đ đang đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được, thua bằng tiền thì bị Tổ công tác Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang.

Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 3.650.000 đồng; thu 01 ví giả da màu đen để dưới chiếu của H, bên trong có số tiền 3.100.000 đồng, H khai sử dụng để đánh bạc; thu trong người N 01 ví giả da màu đen, bên trong có số tiền 4.065.000 đồng, N khai sử dụng để đánh bạc; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc chiếu nhựa đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ sử dụng vào việc đánh bạc ngày 10/02/2022 là: 10.815.000 đồng (gồm: số tiền 3.650.000 đồng thu dưới chiếu bạc; số tiền 4.065.000 đồng thu của N và số tiền 3.100.000 đồng thu của H).

Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS-GV ngày 26/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ ra trước Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh N để xét xử về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố tại phiên tòa, phát biểu luận tội đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ phạm tội “Đánh bạc”; Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N từ 12 đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ; (được trừ 06 ngày tạm giữ, bằng 18 ngày Cải tạo không giam giữ); thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ cßn l¹i lµ từ 11 th¸ng 12 ngày đến 14 tháng 12 ngày; thời gian chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N nhận được bản sao bản án và quyết định thi hành án. KhÊu trõ từ 10% đến 15% thu nhËp hµng th¸ng cña bị cáo Nguyễn Đức N ®Ó sung quü Nhµ n íc trong thêi gian chÊp hµnh ¸n. Giao bị cáo Nguyễn Đức N cho Ủy ban nhân xã G, huyện V, tỉnh N và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời gian cải tạo. Phạt tiền bổ sung đối với Nguyễn Đức N từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 (thêm khoản 2 đối với bị cáo H) Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H từ 24.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng; bị cáo Trần Thanh Đ từ 24.000.000 đồng đến 27.000.000 đồng;

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 10.815.000 đồng (bao gồm: số tiền 3.650.000 đồng thu tại chiếu bạc; số tiền 4.065.000 đồng thu giữ của N và số tiền 3.100.000 đồng thu giữ của H).

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xác nhận nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của các bị cáo, phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng của vụ án đã được thu hồi, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 12 giờ 00 phút ngày 10/02/2022, tại nhà điều hành của Công ty vận tải P ở khu công nghiệp G thuộc xã G, huyện V, các bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ đã sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được, thua bằng tiền đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày bị Tổ công tác Công an huyện V phối hợp với Đồn Công an Khu công nghiệp G phát hiện bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 10.815.000 đồng.

Bộ luật Hình sự quy định:

Điều 321. Tội đánh bạc

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

….

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

. Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ đã nêu trên là phạm tội "Đánh bạc", được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh N truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ. Đánh bạc đang là một tệ nạn nguy hiểm, bị gia đình, xã hội lên án, Nhà nước ta đang ra sức loại trừ. Vì đánh bạc mà nhiều gia đình bị khánh kiệt, nợ nần chồng chất, nó cũng là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác. Các bị cáo đều đã thành niên, có gia đình vợ con, nhưng không chịu tu chí làm ăn lương thiện mà lại tham gia đánh bạc kiếm tiền bất chính. Hành vi của các bị cáo bị chính gia đình các bị cáo lên án, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý thật nghiêm minh, tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Mức hình phạt áp dụng được căn cứ vào tính chất tội phạm, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong vụ án để quyết định cho phù hợp.

. Đối với Nguyễn Đức N là người khởi xướng, chủ động rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc, rồi cùng các bị cáo đánh bạc. Do vËy, Nguyễn Đức N xÕp vai trß ®Çu trong vô vô ¸n. Đối với Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ ®Òu là đồng phạm, thùc hiÖn téi ph¹m mét c¸ch tÝch cùc. Do vËy, các bị cáo này lÇn l ît xÕp vai trß sau cïng trong vô ¸n.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa, đó là: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ; bị cáo H có mẹ đẻ là người đã từng tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Đây là các tình tiết được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vËy, Héi ®ång xÐt xö cÇn áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Đức N từng nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, đã chấp hành xong các quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên một năm, nên được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Các bị cáo Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ đều có nhân thân tốt.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mức độ tham gia vào việc thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Đức N ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ và giao bÞ c¸o cho chÝnh quyÒn ®Þa ph ¬ng n¬i bÞ c¸o th êng tró vµ gia ®×nh bÞ c¸o cã tr¸ch nhiÖm phèi hîp trong viÖc gi¸m s¸t, gi¸o dôc ®èi víi bÞ c¸o. Bị cáo Nguyễn Đức N bị tạm giữ 06 ngày (từ ngày 10/02/2022 đến ngày 16/02/2022) bằng 18 ngày Cải tạo không giam giữ, sẽ được đối trừ vµo thêi gian c¶i t¹o cña bÞ c¸o. KhÊu trõ 10% thu nhËp hµng th¸ng, theo xác nhận tiền lương của Công ty CPQT P cung cấp ®èi víi bÞ c¸o Nguyễn Đức N là 8.000.000 ®ång/th¸ng thµnh tiÒn lµ 800.000 ®ång/th¸ng, theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 36 Bé luËt H×nh sù. Phạt bổ sung thêm đối với bị cáo Nguyễn Đức N theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. §èi víi bị cáo Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ không cần thiết phải cách ly các bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền, tuy là ít nghiêm khắc hơn, nhưng là sự trừng phạt nặng về kinh tế đối với các bị cáo này, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, cũng như tại phiên Tòa đã xác định số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 10.815.000 đồng (bao gồm: số tiền 3.650.000 đồng thu tại chiếu bạc; số tiền 4.065.000 đồng thu giữ của N và số tiền 3.100.000 đồng thu giữ của H). Cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ. Do vậy, cÇn tÞch thu tiªu huû.

Đối với 02 chiếc ví giả da màu đen thu giữ của N và H: Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của N và H, không sử dụng vào việc đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả lại cho N và H, là phù hợp pháp luật.

. VÒ ¸n phÝ: BÞ c¸o ph¶i chÞu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ phạm tội "§¸nh b¹c”.

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 15 (Mười lăm) tháng Cải tạo không giam giữ; (được trừ 06 ngày tạm giữ, bằng 18 ngày Cải tạo không giam giữ); thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ cßn l¹i lµ 14 (Mười bốn) th¸ng 12 (Mười hai) ngày; thêi gian chÊp hµnh h×nh ph¹t C¶i t¹o kh«ng giam gi÷ tÝnh tõ ngµy ñy ban nh©n d©n xã G, huyÖn V, tØnh N nhËn ® îc b¶n sao b¶n ¸n vµ quyÕt ®Þnh Thi hµnh ¸n. KhÊu trõ 10% thu nhËp trong 15 (Mười lăm) th¸ng, mçi th¸ng lµ 800.000 ®ång/th¸ng. Phạt tiền bổ sung 10.000.000 đồng (Mười triệu) sung ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Nguyễn Đức N cho Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, tỉnh N giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo trong thời giam cải tạo.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 (thêm khoản 2 đối với bị cáo Trần Mạnh Hùng) Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 25.000.000 ®ång (Hai mươi lăm triÖu).

+ Xử phạt bị cáo Trần Thanh Đ 25.000.000 ®ång (Hai mươi lăm triÖu).

2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 10.815.000 đồng (bao gồm: số tiền 3.650.000 đồng thu tại chiếu bạc; số tiền 4.065.000 đồng thu giữ của N và số tiền 3.100.000 đồng thu giữ của H).

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếu nhựa đã qua sử dụng, là công cụ dùng vào việc phạm tội vµ vËt chøng kh«ng cã gi¸ trÞ. (Số tiền tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước gửi tại tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Đặc điểm các vật chứng tịch thu tiêu hủy theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/4/2022, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự”.

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Nguyễn Đức N, Trần Mạnh H và Trần Thanh Đ mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ