- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A V, phmaj tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2018/HS-ST Ngày 30-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT - TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Văn Cường
2. Bà Lò Thị Thiết
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lâu Văn Chứ, Thư ký - Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Phạm Viết Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2018/TLST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2018; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 35/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A V - Sinh năm 1980.
Nơi sinh: Huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Bản Trung Thắng, xã Mường Lý, huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Con ông: Giàng A K, đã chết; Con bà: Vàng Thị S, sinh năm 1955; Vợ: Phàng Thị D, sinh năm 1982; con có 02, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2002. Hiện nay, mẹ, vợ và các con của bị cáo đã di cư vào Tây Nguyên sinh sống.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/6/2018 chuyển tạm giam ngày 25/6/2018 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hà Văn K, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý số 1, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ, ngày 22/6/2018, Giàng A V một mình đi bộ từ nhà theo đường mòn cũ sang bản Pưng, thuộc huyện Sốp Bâu, Lào để mua ma túy về sử dụng. Tại bản Pưng, Giàng A V đã vào nhà một người phụ nữ dân tộc Mông, tên là S hỏi và mua của người này một ít hêrôin với số tiền là 50.000đ, khi có ma túy, Giàng A V bỏ ma túy vào vào trong một hộp nhựa hình tròn màu xanh lá cây (nhặt được ở ven đường) rồi giấu vào trong túi quần bên phải đang mặc và sau đó theo đường mòn cũ để quay về nhà. Khi Giàng A V đi về đến khu vực bản Ón, xã Tam Chung, huyện Mường Lát thì bị lực lượng Đồn Biên phòng Tam Chung – BĐBP Thanh Hóa phát hiện và bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thu giữ toàn bộ số ma túy của Giàng A V.
Tại bản kết luận giám định số: 1255/MT-PC54 ngày 24/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận:
Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, khối lượng 0,368 gam (Không phẩy ba trăm sáu tám gam), loại: Hêrôin.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân, vì bị cáo là người nghiện ma túy, đi làm thuê kiếm tiền để mau ma túy sử dụng, không có mục đích nào khác.
Cáo trạng số 35/CT-VKS-ML ngày 17/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Giàng A V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa tranh luận và luận tội: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Bị cáo Giàng A V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Điều luật áp dụng: Điều 38; điểm s khoản 1 điều 51; Điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Đề nghị Hình phạt đối với bị cáo Giàng A V từ 16 tháng 18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, vì bị cáo thuộc diện hộ nghèo.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma tuý đã thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định, đây là vật chứng vụ án, là chất Nhà nước cấm lưu hành.
Áp dụng điểm đ, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Quốc hội, miễn án phí HSST chi bị cáo.
Bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không bị sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình và khai nhận biết rõ hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do bản thân bị nghiện chất ma túy, không kìm chế được bản thân, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới.
Người bào chữa cho bị cáo đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt. Nhưng cho rằng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, số lượng ma túy ít. Ngoài ra, bị cáo lài là người dân tộc thiểu số (Người dân tộc H’Mông), từ nhỏ đã sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, không được đi học dẫn đến nhận thức pháp luật bị hạn chế, gia đình thuộc diện hộ nghèo. Nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm s khoản 1 điều điều 51 BLHS xử phạt bị cáo một mức án thấp nhất, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, tạo điều cho bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội, trở thành công dân có ích và vẫn có tính phòng ngừa chung; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị, vì bị cáo thuộc diện hộ nghèo;
Tại phiên tòa Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS, đồng tình với lời bào chữa, lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo một mức án thấp nhất có thể, để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Lát, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa; Bị cáo và Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 22/6/2018, bị cáo đi bộ sang Lào mua ma túy đem về để sử dụng cho bản thân, trên đường bị cáo về nhà thì bị bị lực lượng chức năng bắt giữ khi đang cất giấu ma túy trong một hộp nhựa hình tròn màu xanh bỏ trong túi quần bên phải, khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 0,368 gam hêrôin, bị cáo khai nhận đi làm thuê và được trả công là 50.000đ sau đó đi mua ma túy về để sử dụng cho bản thân, vì là người nghiện chất ma túy, ngoài ra không nhằm mục đích nào khác. Hành vi của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định; Kết luận giám định; Kết luận điều tra; các bản khai; các bản cung có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Hành vi của bị cáo; khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo; năng lực chịu trách nhiệm hình sự của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Như vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn tiếp tay cho những kẻ chuyên buôn bán các chất ma túy tồn tại và phát triển, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác....làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn nói riêng và xã hội nói chung. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên HĐXX cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, để phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời để bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy.
Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung:
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; thấy rằng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và người bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội và khối lượng chất ma túy thu giữ, mức đề nghị này đã đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 điều 249 BLHS, nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, nghề nghiệp chính là làm nương rẫy, lại là hộ nghèo, nên không có khả năng thi hành án, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng trong vụ án:
Các chất ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định là vật chứng của vụ án, là chất Nhà nước cấm lưu hành, tịch thu hiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, nên HĐXX miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Các nhận định khác:
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông, tên là S, việc mua bán diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Lát không có điều thẩm quyền xác minh làm rõ, nên không thể xử lý ở vụ án này.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm c khoản 1 điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Bị cáo Giàng A V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Hình phạt: Xử phạt bị cáo Giàng A V 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (22/6/2018).
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ gói niêm phong mẫu vật sau giám định do phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành ghi vụ Giàng A V, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Lê Văn Tuyển và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/9/2018 giữa Công an huyện Mường Lát và Chi cục THADS huyện Mường Lát.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ, khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên: Miễn tiền án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền kháng cáo: Căn cứ: Điều 331, điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử công khai; có mặt bị cáo và người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-THA, TAND tỉnh Thanh Hóa; - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa; - VKS nhân dân huyện Mường Lát; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa - Cơ quan CSĐT- Công an H. Mường Lát; - Chi cục THADS huyện Mường Lát; - UBND xã Mường Lý, H. Mường Lát; - Trại Tạm giam-Công an tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo Giàng A V; - Hồ sơ Thi hành án Hình sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Dũng |