vanban.org

Bản án 34/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang, tỉnh An Giang Tuyên án 10/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q (Q) phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. TAND tỉnh An Giang; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Q - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q (Q) phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HS-ST
Ngày 10 tháng 3 năm 2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Chưởng và ông Nguyễn Thiện Pháp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 10 - An Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2026/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Trần Văn Q (Qui Cụt), sinh ngày 01/01/1981; CCCD: 089081021528. Nơi cư trú: ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn R (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1947 (chết); vợ là Huỳnh Thị L1, sinh năm 1990 (đã ly hôn); con tên Trần Thị Ngọc Y, sinh năm 2007. Ngày 21/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Chấp hành xong ngày 04/8/2021

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 15/7/2024, bị Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang) ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, Q chưa nộp phạt.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/12/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Danh H, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp S, xã Ó, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn Q bị Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang) ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng số 16 ngày 18 tháng 12 năm 2024, từ ngày 18 tháng 12 năm 2024 đến ngày 18 tháng 12 năm 2025.

Khoảng 15 giờ ngày 08 tháng 11 năm 2025, nhận được tố giác của quần chúng nhân dân Công an xã T đến nhà của Trần Văn Q thuộc ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang, phát hiện có Q và Danh H nên mời về trụ sở làm việc. Qua làm việc, Q khai nhận ngày 07 tháng 11 năm 2025, H đến nhà Q mang theo một bọc nilon bên trong có ma túy rủ Q sử dụng, Q lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn trong nhà, đổ ma túy vào nỏ rồi cùng H sử dụng hết số ma túy nêu trên. Sau đó, Q đập và ném bỏ bộ dụng cụ sử dụng.

Vật chứng thu giữ: Không.

Tại Bản Kết luận giám định số 1216 ngày 15 tháng 11 năm 2025 của Phòng K - Công an tỉnh A, kết luận: Mẫu nước tiểu của Trần Văn Q gửi đến giám định có tìm thấy thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine.

Theo Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 09 tháng 11 năm 2025 của Trạm Y tế và Công an xã T, ghi nhận: Qui, Hải dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSKV10, ngày 11/02/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang truy tố bị cáo Trần Văn Q (Q) về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Danh H trình bày ngày 06/11/2025, H sử dụng ma túy một mình tại nhà thuộc ấp S, xã Ó, tỉnh An Giang. Ngày 07/11/2025, H không sử dụng ma túy cùng với Q.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Xử phạt bị cáo Trần Văn Q mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Về xử lý vật chứng, không có.

Bị cáo Trần Văn Q nhất trí với bản luận tội, không bào chữa và tranh luận gì khác. Nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 - An Giang, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Danh H vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra; Danh H đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai trước tòa. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:

Ngày 18 tháng 12 năm 2024, Trần Văn Q bị Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang) ra Quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng từ ngày 18 tháng 12 năm 2024 đến ngày 18 tháng 12 năm 2025. Ngày 07 tháng 11 năm 2025, tại ấp Đ, xã T, tỉnh An Giang, Trần Văn Q thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, bị phát hiện.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm.

Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng và sự an toàn của con người; xâm phạm chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh đối với bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có sức khỏe, nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là nhằm thoả mãn nhu cầu sử dụng ma tuý cho bản thân. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo xuất thân thành phần lao động, trình độ học vấn không biết chữ; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Thoai Sơn xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Sau khi chấp hành án xong, bị cáo không biết ăn năn, hối cải lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Do đó cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với Danh H đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại ấp S, xã Ó, tỉnh An Giang, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh A đang thụ lý, giải quyết trong vụ án khác.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q (Q) phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2024, năm 2025. Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 19/12/2025).

Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/ 12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn Q (Q) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt tại tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ