vanban.org

Bản án 34/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 15/07/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/07/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Hoàng Doãn C cho Uỷ ban nhân dân xã B, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Doãn C - trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (điều 247 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Hoàng Doãn C cho Uỷ ban nhân dân xã B, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2026/HS-PT
Ngày 15-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Thẩm phán: Bà Lương Thị Nguyệt

Ông Vi Đức Trí

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Cao Cường - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hoàng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 46/2026/TLPT-HS ngày 04 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo Hoàng Doãn C, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Doãn C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2026/HS-ST ngày 28-4-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.

- Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Doãn C, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1973 tại tỉnh Lạng Sơn. Căn cước công dân số 0200730009xx do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an cấp ngày 06-4-2021. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn H, xã B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Doãn M (đã chết) và bà Triệu Thị P; có vợ là Dương Thị Đ và có 02 con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị Cấm đi khởi nơi cư trú từ ngày 15-01-2026 đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 9-2025, khi Hoàng Doãn C đang đứng tại khu vực chợ B, gần cổng phụ sân vận động xã B, tỉnh Lạng Sơn thì có một người phụ nữ không quen biết, cao khoảng 1m60, mặc áo xanh, quần xanh, đeo khẩu trang màu xanh hỏi Hoàng Doãn C có mua hạt giống cây thuốc phiện không. Do đang có nhu cầu sử dụng cây thuốc phiện làm thuốc cho gia súc, gia cầm nên Hoàng Doãn C đồng ý và mua 03 quả thuốc phiện khô với giá 300.000đồng. Sau đó, Hoàng Doãn C tách hạt từ 03 quả thuốc phiện khô, lấy hạt giống đem gieo trồng tại thửa đất số 10, tờ bản đồ địa chính số 38 xã B, tỉnh Lạng Sơn với diện tích khoảng 115m². Quá trình trồng cây thuốc phiện, Hoàng Doãn C sử dụng cuốc để tạo các luống đất rộng khoảng 01m, cao khoảng 0,1m, giữa các luống có rãnh rộng khoảng 0,2m; bón phân chuồng, gieo hạt và sử dụng bình tôn để tưới nước, chăm sóc cây. Hồi 12 giờ 45 phút ngày 13-01-2026, cơ quan chức năng đã tiến hành kiểm tra, phát hiện khu đất trồng cây thuốc phiện của Hoàng Doãn C. Kết quả khám nghiệm xác định hiện trường là khoảng đất bằng phẳng có diện tích 115m², được tạo thành các luống, trên bề mặt các luống đất có trồng tổng cộng 2.805 cây thực vật màu xanh, lá có hình răng cưa, kích thước trung bình từ 30cm đến 40cm. Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ toàn bộ 2.805 cây trên cùng 01 chiếc cuốc và 01 bình tưới.

Tại Kết luận giám định số 234/KL-KTHS ngày 15-01-2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: 2.805 cây thực vật có đặc điểm màu xanh lá cây, lá trên có hình răng cưa, kích thước trung bình mỗi cây khoảng 30cm đến 40cm gửi giám định là cây thuốc phiện; tổng khối lượng là 14,1kg.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2026/HS-ST ngày 28-4-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn đã quyết định: Căn cứ điểm c khoản 1, 3 Điều 247, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Doãn C phạm tội Trồng cây thuốc phiện, xử phạt bị cáo 01 năm 10 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 8.000.000đồng. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Trong thời hạn luật định, bị cáo Hoàng Doãn C kháng cáo xin được hưởng án treo mức thấp nhất và mức hình phạt tiền bổ sung thấp nhất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Hoàng Doãn C rút kháng cáo về hình phạt bổ sung; bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm kết án bị cáo về tội Trồng cây thuốc phiện là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo về hình phạt bổ sung nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo đã rút theo quy định. Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và ấn định mức hình phạt 01 năm 10 tháng tù trong khung khoản của điều luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp tài liệu mới thể hiện bố đẻ của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba năm 1997; bị cáo có Đơn xác nhận nhân thân được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo đã nộp số tiền phạt bổ sung là 8.000.000đồng và tiền án phí 200.000đồng; bị cáo ủng hộ Quỹ đền ơn đáp nghĩa số tiền 200.000đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có đủ căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu tiền án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hoàng Doãn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân đúng như Bản án sơ thẩm đã tuyên, cụ thể: Khoảng cuối tháng 9-2025, Hoàng Doãn C đã mua hạt giống cây thuốc phiện về gieo trồng trên thửa đất của gia đình tại khu vực L, thôn H, xã B, tỉnh Lạng Sơn nhằm mục đích sử dụng cho gia súc, gia cầm. Quá trình thực hiện, bị cáo trực tiếp làm đất, lên luống, gieo trồng và chăm sóc cây. Đến 12 giờ 45 phút ngày 13-01-2026, hành vi trồng cây thuốc phiện của Hoàng Doãn C bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện thu giữ 2.805 cây và theo kết luận giám định xác định là cây thuốc phiện. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Trồng cây thuốc phiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 247 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút kháng cáo về hình phạt bổ sung. Xét thấy, việc bị cáo rút kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, cần chấp nhận việc rút kháng cáo, đình chỉ việc xét xử phúc thẩm; nội dung về hình phạt bổ sung của Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cụ thể: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố đẻ của bị cáo được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba năm 1975 và Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba năm 2001. Do đó, mức hình phạt 01 năm 10 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ mới, thể hiện: Bố đẻ của bị cáo còn được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba năm 1997; bị cáo có Đơn xin xác nhận nhân thân của bố bị cáo và bản thân bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận; bị cáo đã nộp số tiền phạt bổ sung là 8.000.000đồng và tiền án phí sơ thẩm 200.000đồng; chính quyền địa phường có Giấy xác nhận về việc bị cáo tham gia đóng góp Quỹ đền ơn đáp nghĩa (Quỹ người có công) năm 2026 với số tiền 200.000đồng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, trong vụ án này, mục đích bị cáo trồng cây thuốc phiện chỉ nhằm sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho gia súc, gia cầm, không nhằm mục đích kinh doanh, mua bán, thu lợi bất chính hoặc thực hiện bất kỳ hành vi phạm tội nào khác. Bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú được chính quyền địa phương xác nhận. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, trong thời gian tại ngoại vừa qua không có hành vi bỏ trốn hay vi phạm pháp luật; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, không ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật. Vì vậy, có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 348, điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; đình chỉ việc xét xử phúc thẩm của bị cáo Hoàng Doãn C đối với kháng cáo về hình phạt bổ sung. Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2026/HS-ST ngày 28-4-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn đối với phần hình phạt bổ sung của bị cáo Hoàng Doãn C có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Hoàng Doãn C; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2026/HS-ST ngày 28-4-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù của bị cáo Hoàng Doãn C, cụ thể như sau:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 247, điểm I, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Doãn C 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, cho hưởng án treo về tội Trồng cây thuốc phiện. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm 08 (tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm là ngày 15-7-2026.

Giao bị cáo Hoàng Doãn C cho Uỷ ban nhân dân xã B, tỉnh Lạng Sơn để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về việc thi hành án

Xác nhận bị cáo Hoàng Doãn C đã nộp số tiền 8.000.000đồng (tám triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000073 ngày 08-7-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.

Xác nhận bị cáo Hoàng Doãn C đã nộp số tiền 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000596 ngày 28-4-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.

4. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Hoàng Doãn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ