vanban.org

Bản án 34/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đắk G'Long, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 31/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trồng cây cần sa”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 09 (chín) tháng tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10-3-2018). Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu sung quỹ 04 béc tưới, đường kính 04cm, dài 3,5m;… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trông cây cần sa - phạm tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy (điều 247 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trồng cây cần sa”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK GLONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮK NÔNG
Bản án số: 34/2018/HS-ST
Ngày 31 - 7 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Hữu Tỷ và ông Phạm Xuân Đức.

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Ông Trần Việt Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2018/TLST-HS ngày 20 tháng 06 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2018/QĐXXST - HS, ngày 17 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Đức H, sinh năm 1984 tại tỉnh H; nơi cư trú: Cụm 13, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T (đã chết) và bà Đỗ Thị D (sinh năm 1960); bị cáo có vợ Trương Thị Bích P (sinh năm 1987) và 03 con (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 10-3-2018, sau đó chuyển tạm giam - có mặt

Người làm chứng

Chị Trương Thị Bích P, địa chỉ: Cụm 13, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt

Anh Ma A S, địa chỉ: Tiểu khu 179, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt mặt

Anh Ma A C, địa chỉ: Thôn 3, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Anh Sồng A P, địa chỉ: Thôn 3, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 19-12-2017, Trương Minh T đến cụm 13, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông thuê đất của Nguyễn Đức H mục đích để trồng cây Cần sa nhưng Trương Minh T nói với Nguyễn Đức H là để ươm cây xoài giống thì Nguyễn Đức H đồng ý. Hai bên lập hợp đồng viết tay với nội dung Nguyễn Đức H cho Trương Minh T thuê diện tích đất khoảng 5.000m2 trong thời hạn 06 tháng, số tiền thuê là 10.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong, Trương Minh T nói với Nguyễn Đức H là về quê để mang giống cây xoài lên ươm.

Khoảng 05 ngày sau, Trương Minh T quay lại mang theo hạt giống cây Cần sa rồi tiến hành ươm hạt với số lượng khoảng 400 bầu, mỗi bầu khoảng từ 04 đến 05 cây con. Trương Minh T thuê Nguyễn Đức H phát cỏ và đào hố để Tuấn trồng cây Cần sa (Trương Minh T nói với Nguyễn Đức H là trồng cây thuốc nam). Để cây Cần sa sinh trưởng và phát triển, Trương Minh T sử dụng hệ thống tưới gồm đầu bơm, máy bơm, béc tưới, ống nhựa, bình xịt thuốc để tưới nước và xịt thuốc chống sâu bệnh cho cây.

Vào khoảng ngày 07-02-2018, Nguyễn Đức H đi vào rẫy nhìn thấy cây phát triển khoảng 0,8m - 01m nên hỏi Trương Minh T đó là những cây gì thì Trương Minh T nói cho Hà biết đó là cây Cần sa và dặn Nguyễn Đức H không được nói cho ai biết. Nghe T nói vậy thì Hà không nói gì.

Đến ngày 05/3/2018, Trương Minh T thuê Nguyễn Đức H đi chặt cây tre để Tuấn chống cho cây Cần sa, T thỏa thuận trả cho H 200.000 đồng tiền công thì H đồng ý. Khi Trương Minh T và Nguyễn Đức H đang dùng tre để chống cho cây Cần sa không bị đổ thì bị Cơ quan Công an huyện Đắk Glong phát hiện bắt được Nguyễn Đức H còn Trương Minh T chạy thoát. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ 1.015 cây Cần sa.

Tại Kết luận giám định số 16-KLMT/PC54 ngày 13-3-2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: 1.015 cây thực vật gửi giám định là cây Cần sa.

Hoàn lại đối tượng giám định: 1.000 cây thực vật gửi giám định.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: 1.015 cây Cần sa; 01 đoạn ống nhựa màu hồng, đường kính 1,8cm, dài 2,3m; 01 đoạn ống nhựa màu vàng, đường kính 2,5cm, dài 2,3m; 02 đoạn ống nhựa màu nâu, đường kính 04cm, một đoạn ống dài 13,4m; một đoạn ống dài 15,8m; 01 đoạn ống nhựa màu xanh, đường kính 04cm, dài 17,4m; 01 đoạn ống nhựa màu vàng, đường kính 0,8cm, dài 12,5m; 01 đoạn ống nhựa màu xanh, đường kính 0,8cm, dài 46m; 02 đoạn ống nhựa màu đen có sọc đỏ, đường kính 06cm, đoạn thứ nhất dài 1,3m; đoạn thứ hai dài 1,5m được nối với nhau bằng một ống sắt hình chữ T; các đoạn dây thép đường kính 0,05cm, dài 0,85m; 04 béc tưới, đường kính 04cm, dài 3,5m; 01 béc tưới, đường kính 04cm, dài 3,8m; 01 máy bơm màu đỏ, không rõ nhãn hiệu được lắp trên khung sắt kích thước (60x20x28)cm; 01 đầu bơm nhãn hiệu Văn Thể; 01 máy bơm không rõ nhãn hiệu được lắp trên khung sắt có kích thước (107x34x38)cm; 01 con dao phát; 04 cái cuốc cán bằng tre; 01 bình bơm nhãn hiệu JAMAHA; 01 bình bơm nhãn hiệu KWANG SUNG; 01 thùng nhựa màu xanh, kích thước (35x60)cm.

Bản cáo trạng số 33/CTr-VKS ngày 18 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội “Trồng cây cần sa” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 247 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 247; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù; các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự ; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 05 béc tưới, 02 máy bơm; 01 đầu bơm; Tịch thu, tiêu hủy 1.000 cây Cần sa; 09 đoạn ống nhựa; các đoạn đây thép; 01 con dao phát; 04 cái cuốc; 02 bình bơm và 01 thùng nhựa. (Có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26-6-2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong)

Đối với Trương Minh T, sau khi phạm tội đã bỏ trốn cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định truy nã và quyết định tách vụ án, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý qua đó xác định: Ngày 19-12-2017 Trương Minh T thuê đất của Nguyễn Đức H tại cụm 13, xã Đ, huyện Đ mục đích để trồng cây cần sa. Đến ngày 05-3-2018 Trương Minh T cùng Nguyễn Đức H đang dùng tre để chống cho cây cần sa không bị đổ thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Glong phát hiện và thu giữ 1.015 cây cần sa. Do đó hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trồng cây cần sa” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 247 của Bộ luật hình sự.

Điểm c khoản 1 Điều 247 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm :

…

c). với số lượng từ 500 cây đến dưới 3000 cây.

[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của con người, việc trồng cây cần sa là tiền đề tạo ra những hệ lụy xấu cho đời sống xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, do đó phải xử lý nghiêm trước pháp luật. Xét vai trò của bị cáo trong vụ án là giúp sức cho Trương Minh T, do vậy HĐXX xem xét khi quyết định hình phạt.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, HĐXX xem xét khi quyết định hình phạt.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình làm nông mức thu nhập không ổn định, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Đối với hành vi trồng cây cần sa của Trương Minh T, sau khi phạm tội đã bỏ trốn cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định truy nã và quyết định tách vụ án, khi nào bắt được sẽ xử lý sau là có căn cứ nên không đề cập.

[7]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự : tịch thu sung quỹ 04 béc tưới, đường kính 04cm, dài 3,5m; 01 béc tưới, đường kính 04cm, dài 3,8m; 01 máy bơm màu đỏ, không rõ nhãn hiệu được lắp trên khung sắt kích thước (60x20x28)cm; 01 đầu bơm nhãn hiệu Văn Thể; 01 máy bơm không rõ nhãn hiệu được lắp trên khung sắt có kích thước (107x34x38)cm; tịch thu, tiêu hủy 1.000 cây Cần sa còn lại sau giám định đã được niêm phong theo quy định; 01 đoạn ống nhựa màu hồng, đường kính 1,8cm, dài 2,3m; 01 đoạn ống nhựa màu vàng, đường kính 2,5cm, dài 2,3m; 02 đoạn ống nhựa màu nâu, đường kính 04cm, một đoạn ống dài 13,4m; một đoạn ống dài 15,8m; 01 đoạn ống nhựa màu xanh, đường kính 04cm, dài 17,4m; 01 đoạn ống nhựa màu vàng, đường kính 0,8cm, dài 12,5m; 01 đoạn ống nhựa màu xanh, đường kính 0,8cm; dài 46m; 02 đoạn ống nhựa màu đen có sọc đỏ, đường kính 06cm; đoạn thứ nhất dài 1,3m; đoạn thứ hai dài 1,5m được nối với nhau bằng một ống sắt hình chữ T; các đoạn dây thép đường kính 0,05cm; dài 0,85m; 01 con dao phát; 04 cái cuốc cán bằng tre; 01 bình bơm nhãn hiệu JAMAHA; 01 bình bơm nhãn hiệu KWANG SUNG; 01 thùng nhựa màu xanh, kích thước (35x60)cm (đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26-6-2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong) được dùng làm công cụ phương tiện phạm tội là phù hợp.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Trồng cây cần sa”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 247; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 09 (chín) tháng tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10-3-2018).

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu sung quỹ 04 béc tưới, đường kính 04cm, dài 3,5m; 01 béc tưới, đường kính 04cm, dài 3,8m; 01 máy bơm màu đỏ, không rõ nhãn hiệu được lắp trên khung sắt kích thước (60x20x28)cm; 01 đầu bơm nhãn hiệu Văn Thể; 01 máy bơm không rõ nhãn hiệu được lắp trên khung sắt có kích thước (107x34x38)cm; tịch thu, tiêu hủy 1.000 cây Cần sa còn lại sau giám định đã được niêm phong theo quy định; 01 đoạn ống nhựa màu hồng, đường kính 1,8cm, dài 2,3m; 01 đoạn ống nhựa màu vàng, đường kính 2,5cm, dài 2,3m; 02 đoạn ống nhựa màu nâu, đường kính 04cm, một đoạn ống dài 13,4m; một đoạn ống dài 15,8m; 01 đoạn ống nhựa màu xanh, đường kính 04cm, dài 17,4m; 01 đoạn ống nhựa màu vàng, đường kính 0,8cm, dài 12,5m; 01 đoạn ống nhựa màu xanh, đường kính 0,8cm, dài 46m; 02 đoạn ống nhựa màu đen có sọc đỏ, đường kính 06cm, đoạn thứ nhất dài 1,3m; đoạn thứ hai dài 1,5m được nối với nhau bằng một ống sắt hình chữ T; các đoạn dây thép đường kính 0,05cm, dài 0,85m; 01 con dao phát; 04 cái cuốc cán bằng tre; 01 bình bơm nhãn hiệu JAMAHA; 01 bình bơm nhãn hiệu KWANG SUNG; 01 thùng nhựa màu xanh, kích thước (35x60)cm (đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26-6-2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4.Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nơi nhận:

- TAND tỉnh Đắk Nông;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện Đắk Glong;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;

- Công an huyện Đắk Glong;

- Bộ phận hồ sơ CA huyện Đắk Glong;

- Chi cục THADS huyện Đắk Glong;

- Bị cáo;

( Đã ký)

- Lưu .

Đỗ Văn Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Cỡ chữ