- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Vũ Hồng P và đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Vũ Hồng P 25.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34 /2025/HS-PT Ngày: 16/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ký
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quyên
Bà Bùi Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Ngọc Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 447/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo Lê Vũ Hồng P, Phạm Ngọc P1 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Lê Vũ Hồng P, sinh năm 1992 tại Đồng Nai. Căn cước công dân số 075092024490; Nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH. Nơi cư trú: Tổ X1, ấp TN, xã X, huyện TN, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa. Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12. Họ tên cha: Lê Hồng M, sinh năm 1957; Họ tên mẹ: Vũ Thị H, sinh năm 1960; Bị cáo là con út trong gia đình có 04 anh, chị em; Chưa có vợ con; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/02/2024 đến ngày 18/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.
2. Họ và tên: Phạm Ngọc P1; Sinh năm 1996 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ X1, ấp TN, xã X, huyện TN, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa. Căn cước công dân số 075096017678; nơi cấp: Cục CSQLHC về TTXH; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12. Họ tên cha: Phạm Ngọc M1, chết năm 2016. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1963; Bị cáo là con út trong gia đình có 03 anh em. Họ và tên vợ: Phạm Nguyễn Thùy MQ, sinh năm 2000; có 01 con sinh năm 2023. Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/02/2024 đến ngày 18/02/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.
Ngoài ra còn có bị cáo Hồ Hữu Th không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 09/02/2024, Công an xã X phối hợp với Công an huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát hiện tại sân vườn phía sau nhà của Đoàn Trần Hoàng D, sinh năm 1991 ở ấp TN, xã X, huyện TN, tỉnh Đồng Nai có một số đối tượng gồm: Phạm Ngọc P1, Lê Vũ Hồng P và Hồ Hữu Th, sinh năm 2000, trú tại xã Q đang tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi “Binh xập xám” được thua bằng tiền nên đã lập biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội qủa tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 1.900.000 đồng, 01 bộ bài tây loại 52 lá, 01 bộ bầu cua (01 đĩa nhựa, 01 nắp nhựa, 03 hột lắc), 02 xe mô tô biển số 60B9-789.10, 60B2-339.39, thu trên người Hồ Hữu Th số tiền 400.000 đồng, trên người Lê Vũ Hồng P số tiền 2.980.000 đồng và trên người Phạm Ngọc P1 số tiền 4.300.000 đồng.
Kết quả điều tra đã làm rõ được hành vi đánh bạc như sau: Những người đánh bạc sử dụng bộ bài tây loại 52 lá hình thức đánh bạc được quy ước như sau: mỗi ván bài người chơi được chia đều 13 lá bài, người chơi sắp xếp bài của mình thành 03 chi (05 lá bài chi đầu, 05 lá bài tiếp theo chi 2, 03 lá bài cuối là chi 3) lá bài A lớn nhất, 2 nhỏ nhất, tùy người chơi xếp bài theo từng chi, Quy ước như sau: Mậu thầu: không có liên kết các lá bài; Đôi: có 02 lá bài giống nhau; Thú: có 02 đôi; Sám cô: có 3 lá bài cùng số nhau; Sảnh: có 5 lá thứ tự liên tiếp nhau; Thùng: 5 lá cùng chất; Cù lủ: có 01 sám và 01 đôi; Tứ quý: 4 lá cùng số nhau; Thùng phá sảnh: sảnh có cùng chất; Mậu binh: tứ quý; thùng phá sảnh; 06 đôi (không tính chi); 03 chi đều là sảnh hoặc thùng; sảnh rồng (tính từ quân bài 2 đến A) thắng trắng không cần so chi.
Đến 15 giờ 45 phút cùng ngày, trong lúc các đối tượng đang đánh bạc thì bị Công an huyện Thống Nhất bắt quả tang cùng tang vật, một số đối tượng bỏ chạy thoát. Tại thời điểm bị bắt quả tang, các đối tượng khai nhận số tiền tham gia đánh bạc thắng, thua như sau:
Lê Vũ Hồng P mang theo số tiền 2.780.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Kết quả P thắng bạc số tiền 200.000 đồng, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 2.980.000 đồng.
Phạm Ngọc P1 mang theo số tiền 4.300.000 đồng, P1 lấy ra số tiền 1.300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc, quá trình đánh bạc không thua, không thắng, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 1.300.000 đồng.
- Hồ Hữu Th mang theo số tiền 600.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Kết quả thua bạc số tiền 200.000 đồng, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 400.000 đồng.
- Số tiền 1.900.000 đồng thu tại chiếu bạc, các đối tượng đều khai nhận là của đối tượng D cùng tham gia đánh bạc chạy thoát bỏ lại.
Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.500.000 đồng. Hành vi đánh bạc của Lê Vũ Hồng P, Phạm Ngọc P1 và Hồ Hữu Th bị phát hiện xử lý theo quy định của pháp luật.
Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 6.580.000 đồng (1.900.000 đồng trên chiếu bạc, số tiền 2.980.000 đồng của Lê Vũ Hồng P, số tiền 1.300.000 của Phạm Ngọc P1 và số tiền 400.000 đồng của Hồ Hữu Th) là số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc cần tịch thu sung công; 01 xe mô tô biển số 60B9-789.10 của Lê Vũ Hồng P sử dụng đi đến địa điểm đánh bạc; 01 tấm chiếu màu trắng kích thước 1,8x2m, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng là công cụ các bị cáo sử dụng đánh bạc, 01 bộ bầu cua (01 đĩa nhựa, 01 nắp nhựa, 03 hột lắc); Số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của Phạm Ngọc P1, xác định không liên quan đến vụ án;
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future X, màu trắng – xám – đen, số máy C35E-3241866, số khung AY-420937, gắn biển số 60B2-339.39 thu giữ của Hồ Hữu Th (biển số thật là 59H1-012.05, chủ sở hữu là anh Nguyễn Ngọc Ph - SN: 1985; HKTT: ấp X2, xã BL, thành phố L, tỉnh Đồng Nai). Qua làm việc anh Nguyễn Ngọc Ph khai nhận nhặt được biển số 60B2-339.39 bên đường, thấy số đẹp nên gắn vào xe để sử dụng. Vào ngày 09/02/2024, khi cho Hồ Hữu Th mượn xe, anh Ph không biết Th sử dụng để đi đánh bạc, chiếc xe không liên quan đến vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện Thống Nhất trao trả chủ sở hữu.
Đối với đối tượng tên D (theo lời khai các bị cáo) có tham gia đánh bạc nhưng không ai xác định được tên, tuổi nơi cư trú của D, quá trình điều tra không xác định được đối tượng D nên tách ra tiếp tục xác minh xử lý sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HSST ngày 19/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Vũ Hồng P 08 tháng tù về “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/02/2024 đến ngày 18/02/2024. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc P1 08 tháng tù về “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/02/2024 đến ngày 18/02/2024. Ngoài ra còn xử phạt bị cáo Hồ Hữu Th 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngày 21/9/2024, bị cáo Lê Vũ Hồng P, Phạm Ngọc P1 kháng cáo xin hưởng án treo với nội dung: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận, ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách của nhà nước, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Cấp sơ thẩm xử không oan sai, xử đúng người, đúng tội. Các tình tiết giảm nhẹ các bị cáo trình bày đã được cấp sơ thẩm xem xét. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo cung cấp giấy xác nhận hoàn cảnh gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, mức hình phạt cấp sơ thẩm tuyên đối với các bị cáo là phù hợp. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:
Trên cơ sơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận, vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 09/02/2024, Phạm Ngọc P1, Lê Vũ Hồng P, Hồ Hữu Th và đối tượng tên D đang tham gia đánh bạc dưới hình thức chơi “Binh xập xám” được thua bằng tiền tại nhà của Đoàn Trần Hoàng D ở ấp TN, xã X, huyện TN, tỉnh Đồng Nai thì bị phát hiện và bắt qủa tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 1.900.000 đồng, 01 bộ bài tây loại 52 lá, 01 bộ bầu cua (01 đĩa nhựa, 01 nắp nhựa, 03 hột lắc), 02 xe mô tô biển số 60B9-789.10, 60B2-339.39, cụ thể: Lê Vũ Hồng P mang theo số tiền 2.780.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc, Phạm Ngọc P1 sử dụng số tiền 1.300.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc và Hồ Hữu Th mang theo số tiền 600.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc, số tiền trên chiếu bạc của đối tượng D là 1.900.000 đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.580.000 đồng.
Cấp sơ thẩm xem xét tính chất mức độ, vai trò phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của từng bị cáo, xử phạt bị cáo P, bị cáo P1 mỗi bị cáo 08 tháng tù về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáp phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền tham gia vào việc đánh bạc không lớn, các bị cáo có nhân thân tốt, có khả năng tự cải tạo. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo cung cấp giấy xác nhận hoàn cảnh khó khăn, bị cáo P1 con còn nhỏ, có công việc và nơi cư trú ổn định và có thu nhập. Do vậy, cần xử phạt các bị cáo hình phạt chính là phạt tiền theo Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giữa nguyên bản án hình sự sơ thẩm không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[4] Về án phí: Các bị cáo không phải nộp 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lê Vũ Hồng P, Phạm Ngọc P1, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HSST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
1. Áp dụng khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt:
+ Bị cáo Lê Vũ Hồng P 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
+ Bị cáo Phạm Ngọc P1 25.000.000đ (hai mươi lăm triệu đồng).
2. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Vũ Hồng P, Phạm Ngọc P1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân H. Tân Phú; - Viện kiểm sát nhân dân H. Tân Phú; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Cơ quan Thi hành án hình sự H. Tân Phú; - Cơ quan Cảnh sát điều tra H. Tân Phú; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Đồng Nai; - Chi cục Thi hành án dân sự H. Tân Phú; - Các Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng và Thẩm phán (4). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Lê Thị Ký |