vanban.org

Bản án 34/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị L.

Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý cho bà Trương Thị L và ông Nguyễn Vũ K được ly hôn. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 29/10/2009 và cháu Nguyễn Thế D, sinh ngày 19/11/2016 cho bà Trương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Ông Nguyễn Vũ K không phải cấp dưỡ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị L - Nguyễn Vũ Kh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày 28 - 8 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.

2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025; về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2025/QĐST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị L, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Ấp T, xã N, thành phố Cần Thơ. (có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ K, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Ấp T, xã N, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/01/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trương Thị L trình bày: Nguyên năm 2009, bà Trương Thị L với ông Nguyễn Vũ K xây dựng hôn nhân có đăng ký kết hôn và được UBND xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã N, thành phố Cần Thơ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 16/6/2009. Trong quá trình chung sống ông bà có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 29/10/2009 (theo Giấy khai sinh số 258 ngày 17/11/2009) và cháu Nguyễn Thế D, sinh ngày 19/11/2016 (theo Giấy khia sinh số 203 ngày 06/12/2016); Hiện, cháu Nguyễn Thị Thúy A và cháu Nguyễn Thế D sống với bà Trương Thị L. Không có tài sản chung, không có nợ chung và cũng không có người khác nợ vợ chồng. Trong thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cải vã và bất đồng trong cuộc sống, ông Nguyễn Vũ K không chăm sóc vợ con nên vợ chồng không còn chung sống từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay.

Nay bà Trương Thị L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị L Yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 29/10/2009 và cháu Nguyễn Thế D, sinh ngày 19/11/2016 đến trưởng thành (tròn 18 tuổi); bà Trương Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về con chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Bị đơn Nguyễn Vũ K: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án só 129/2025/TB-TLVA ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ nên ông Nguyễn Vũ K cũng đã biết nội dung, căn cứ khởi kiện và những vấn đề bà Trương Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết, nhưng ông Nguyễn Vũ K không có văn bản trả lời theo Toà án ấn định. Đồng thời, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không tham gia.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xin vắng mặt và không có ý kiến khác nên xem như giữ nguyên nội dung đơn yêu cầu khởi kiện.

* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về tố tụng:

[1] Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Trương Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn với ông Nguyễn Vũ K; yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 29/10/2009 và cháu Nguyễn Thế D, sinh ngày 19/11/2016 đến trưởng thành (tròn 18 tuổi); bà Trương Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung, người khác nợ vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Trong vụ án bị đơn Nguyễn Vũ K cư trú tại ấp T, xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là ấp T, xã N, thành phố Cần Thơ). Do vậy, Toà án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Trương Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn Nguyễn Vũ K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm mà vẫn vắng mặt không lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.

[II] Về nội dung:

[1] Nguyên đơn Trương Thị L và bị đơn Nguyễn Vũ K chung sống và kết hôn với nhau là trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được UBND xã G, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (nay là xã N, thành phố Cần Thơ) cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 32 ngày 16/6/2009, nên quan hệ hôn nhân giữa bàTrương Thị L1 với ông Nguyễn Vũ K là hợp pháp. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc và đã có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 29/10/2009 và cháu Nguyễn Thế D, sinh ngày 19/11/2016, theo bà Trương Thị L trong thời gian chung sống sau này vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cải vã và bất đồng trong cuộc sống nên đời sống hôn nhân lạnh nhạt, không còn chung sống vợ chồng từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay. Bị đơn Nguyễn Vũ K tuy không có ý kiến và không tham gia tố tụng nhưng biết về nội dung khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn mà không phản đối.

[2] Theo quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình “Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn...; Cá nhân thực hiện quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình theo quy định của Bộ luật này, Luật hôn nhân và gia đình...” và theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Do đó, bà Trương Thị L hoặc bà Trương Thị L cùng ông Nguyễn Vũ K có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn, nên ngày 06/01/2025 bà Trương Thị L tự mình gửi đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Vũ K là phù hợp theo quy định pháp luật.

[3] Theo nguyên đơn Trương Thị L thì trong thời gian chung sống sau này vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cải vã và bất đồng trong cuộc sống, ông Nguyễn Vũ K không quan tâm, chăm lo cho vợ con nên đời sống hôn nhân lạnh nhạt, không còn chung sống vợ chồng từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay. Xét thấy, thời gian bà Trương Thị L và ông Nguyễn Vũ K không còn chung sống vợ chồng tính đến thời điểm khởi kiện và xét xử sơ thẩm là đã nhiều tháng và mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh trong thời gian chung sống và cũng đã kéo dài, đến mức trầm trọng, làm cho cuộc sống vợ chồng không được hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân cũng không đạt được, tình cảm vợ chồng thật sự đã hết và về tương lai cũng không thể hàn gắn được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các bên và đến việc nuôi dạy con cái, nay bà Trương Thị L cương quyết ly hôn với ông Nguyễn Vũ K. Do đó, theo bà Trương Thị L yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Vũ K là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp.

[4] Về con chung: Hội đồng xét xử thấy rằng: theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn thì “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Xét thấy, cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 29/10/2009 và cháu Nguyễn Thế D, sinh ngày 19/11/2016 tính đến ngày xét xử sơ thẩm cháu Nguyễn Thị Thúy A và cháu Nguyễn Thế D trên 07 tuổi nên quyết định giao cháu cho ai trực tiếp nuôi phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của các cháu và phải xem xét nguyện vọng của các cháu; trên thực tế cháu Nguyễn Thị Thúy A và cháu Nguyễn Thế Danh T khi bà Trương Thị L và ông Nguyễn Vũ K không còn chung sống thì bà Trương Thị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến nay, cháu Nguyễn Thị Thúy A và cháu Nguyễn Thế D hiện được bà Trương Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc tốt và tình cảm gắn bó với bà Trương Thị L. Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai của đương sự cùng ngày 08/7/2025, có sự chứng kiến của bà Trương Thị L, cháu Nguyễn Thị Thúy A và cháu Nguyễn Thế D nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn cháu xin được sống với bà Trương Thị L và hiện tại bà Trương Thị L cũng có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Thị Thúy A và cháu Nguyễn Thế D, nếu thay đổi môi trường sống sẽ ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần (đời sống tâm sinh lý và tình cảm) và cuộc sống bình thường của cháu, nên sau khi ly hôn tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Thúy A và cháu Nguyễn Thế D cho bà Trương Thị L trực tiếp nuôi là hợp tình, hợp lý và có căn cứ pháp luật. Do vậy, theo bà Trương Thị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung là cháu Nguyễn Thị Thúy A và cháu Nguyễn Thế D đến trưởng thành (tròn 18 tuổi) và bà Trương Thị L không yêu cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại, theo bà Trương Thị L xác nhận không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này có phát sinh và tranh chấp thì sẽ khởi kiện, giải quyết theo quy định pháp luật.

[6] Từ những phân tích và nhận định như đã nêu trên, theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là có căn cứ, nên được chấp nhận.

[7] Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, nên được chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm, nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân theo mức án phí không giá ngạch theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; theo hướng dẫn tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị L.

- Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý cho bà Trương Thị L và ông Nguyễn Vũ K được ly hôn.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thúy A, sinh ngày 29/10/2009 và cháu Nguyễn Thế D, sinh ngày 19/11/2016 cho bà Trương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Ông Nguyễn Vũ K không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho ông Nguyễn Vũ K theo quy định pháp luật, không ai có quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ lại: Theo bà Trương Thị L không có và không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Trương Thị L phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001764 ngày 11/6/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ (khu vực 8). Như vậy, bà Trương Thị L đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

3. Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú) để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ