vanban.org

Bản án 34/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Nguyệt H. Chị Trần Thị Nguyệt H được ly hôn với anh Lê Trung T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Thảo Ng, sinh ngày 02/6/2015 và Lê Thảo Nh, sinh ngày 11/5/2021. Hiện nay hai con chung đang sống với chị Trần Thị Nguyệt H. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Nguyệt H. Sau khi ly hôn, chị Trần Thị Nguyệt H được trực tiếp nuôi dưỡng hai con ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Nguyệt H. Chị Trần Thị Nguyệt H được ly hôn với anh Lê Trung T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – ĐỒNG THÁP
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04/12/2025
V/v Tranh chấp về HNGĐ - Ly
hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐỒNG THÁP, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Cẩm Hừng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Hải;

2. Ông Nguyễn Viết Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phan Minh Trí- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 6 – Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Nguyệt H, sinh ngày 26/6/1993.

Địa chỉ: Tổ 27, Khóm MH, Phường B, thành phố C (nay là Khóm MH, Phường C), tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Lê Trung T, sinh năm 1987

Địa chỉ thường trú: Tổ 12, Khóm MH, Phường MN, tỉnh Đồng Tháp,

Địa chỉ liên hệ: Số 705, Tổ 6, Khóm MM, Phường MN, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị Trần Thị Nguyệt H có mặt, anh Lê Trung T vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Trần Thị Nguyệt H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Nguyệt H và anh Lê Trung T kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Mỹ Tân, thành phố Cao Lãnh (nay là UBND Phường Mỹ Ngãi) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 117 ngày 14/10/2014.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay chị Trần Thị Nguyệt H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với anh Lê Trung T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Thảo Ng, sinh ngày 02/6/2015 và Lê Thảo Nh, sinh ngày 11/5/2021. Hiện nay hai con chung đang sống với chị Trần Thị Nguyệt H. Sau khi ly hôn, chị H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lê Trung T: Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì liên quan đến vụ án, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn chị Trần Thị Nguyệt H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Lê Trung T, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, ngoài ra nguyên đơn, bị đơn không còn yêu cầu nào khác nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con”.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Trung T là bị đơn trong vụ án có địa chỉ cư trú tại Phường MN, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Đồng Tháp, tỉnh Đồng Tháp.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh Lê Trung T nhưng anh Lê Trung T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Nguyệt H và anh Lê Trung T kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND xã MT, thành phố C (nay là UBND Phường MN) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 117 ngày 14/10/2014 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo lời chị H trình bày, trong quá trình chị H và anh T chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do do vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành.

Hội đồng xét xử nhận định, trong quá trình chung sống, chị H và anh T phát sinh mâu thuẫn là có thật và vợ chồng anh chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 2021 cho đến nay. Thời gian xa nhau, anh chị cũng không thể hàn gắn lại tình cảm. Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H xác định đã không còn tình cảm với anh T. Về phía anh T, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T nhưng đến nay anh vẫn không đến Tòa án trình bày ý kiến hay có văn bản thể hiện phản đối yêu cầu ly hôn của chị H và anh cũng không có hành động nào thể hiện ý muốn hàn gắn tình cảm với chị H. Do mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Nguyệt H, chị Trần Thị Nguyệt H được ly hôn với anh Lê Trung T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Thảo Ng, sinh ngày 02/6/2015 và Lê Thảo Nh, sinh ngày 11/5/2021.

Theo lời trình bày của chị Hả, hiện nay hai con chung đang sống với chị Trần Thị Nguyệt H. Khi ly hôn, chị H yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy hai con chung đang sống chung với chị H, do chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Yêu cầu của chị H cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị H xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị Nguyệt H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Anh Lê Trung T không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Nguyệt H. Chị Trần Thị Nguyệt H được ly hôn với anh Lê Trung T.

2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Thảo Ng, sinh ngày 02/6/2015 và Lê Thảo Nh, sinh ngày 11/5/2021. Hiện nay hai con chung đang sống với chị Trần Thị Nguyệt H.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Nguyệt H. Sau khi ly hôn, chị Trần Thị Nguyệt H được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Lê Thảo Ng, sinh ngày 02/6/2015 và Lê Thảo Nh, sinh ngày 11/5/2021.

Sau khi ly hôn, người không được quyền nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp người không được quyền nuôi con chung lạm dụng việc thăm nom để gây cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người được quyền nuôi con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không được quyền nuôi con chung.

Người được quyền nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không được quyền nuôi con chung trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét

4. Về nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí: Chị Trần Thị Nguyệt H phải chịu 300.000 đồng án phí về hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004282 ngày 10/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, chị H đã nộp xong.

Anh Lê Trung T không phải chịu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Nguyệt H được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Trung T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ