- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tùy-Uyên"
- Tòa quyết gì? {1} Về tình cảm: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn T được li hôn chị Trần Thị U .
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 34 /2025/HNGĐ- ST Ngày 28-11-2025 (V/v kiện xin li hôn và tranh chấp quyền nuôi con) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Loan Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Đình Thư và bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Xuân Giáp- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An tham gia phiên toà: bà Hồ Thị Hậu- Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 90/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2025 về việc “kiện xin li hôn, quyền nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn T , sinh năm 1996; CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: xóm N , xã T , tỉnh Nghệ An. Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: chị Trần Thị U , sinh năm 1999; CCCD: xxxxxxxxxxxx
Địa chỉ: xóm N, xã T , tỉnh Nghệ An.Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/8/2025 và các lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày: Ngày 11/3/2021, anh và chị Trần Thị U cưới và đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Quán Hành, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An (nay là xã Nghi Lộc- Nghệ An); Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do quan điểm sống bất đồng. Hiện tại, xét thấy tình cảm không còn, nên anh làm đơn xin li hôn với chị Trần Thị U .
Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trung K , sinh ngày 06/8/2021. Từ thời điểm vợ chồng có mâu thuẫn thì cháu Kiên theo mẹ về ở cùng ông bà ngoại tại xóm Kim Liên, xã Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Nay, anh xin li hôn và có nguyện vọng cho cháu Nguyễn Trung K được tiếp tục ở với mẹ để được mẹ chăm sóc trọn vẹn như hiện tại.
Anh có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như đã trình bày.
Về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ và vay nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: anh xin chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là chị Trần Thị U có bản tự khai và giấy xin vắng mặt tại phiên tòa. Tại bản khai, chị trình bày: chị và anh T kết hôn vào ngày 11/3/2021 và có đăng kí tại Ủy ban nhân dân thị trấn Quán Hành, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Chị thừa nhận vợ chồng đã bắt đầu có mâu thuẫn từ sau khi cưới và gia đình hai bên nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Chị đã mang con là Nguyễn Trung K về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ; Hiện nay, chị cũng xét thấy tình cảm không còn nhưng do chị là người theo đạo Công giáo nên chị không đồng ý li hôn.
Về con, chị cũng công nhận vợ chồng có 1 con chung là cháu Nguyễn Trung K , sinh ngày 06/8/2021; Chị đang trực tiếp nuôi cháu và chị cũng yêu cầu xin được giao con cho chị tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ và vay nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của xóm trưởng (nơi chị U sinh sống cùng bố mẹ); xác minh tại chính quyền địa phương thì được biết: do mẫu thuẫn nên chị Trần Thị U đã cùng con về sống với bố mẹ đẻ tại xóm N , xã N , tỉnh Nghệ An; Địa phương không nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Nghệ An phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành và người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước lúc nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Việc thụ lý đúng thẩm quyền; xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng; chuyển hồ sơ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát, thời hạn giải quyết tuân thủ quy định của pháp luật. Việc xét xử vắng mặt đương sự đúng quy định.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 80, 81, 82 và 83 và Điều 84 luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn yêu cầu của anh Nguyễn Văn T , cho anh được li hôn chị Trần Thị U ; giao cháu Trần Trung K cho chị Trần Thị U tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng như trước nay theo nguyện vọng chung của cả bố và mẹ; không giải quyết về nội dung đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung của vợ chồng do các bên chưa có yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết án phí theo quy định chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
{1} Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thu thập lời khai các đương sự, họp phiên công khai chứng cứ, tiến hành hòa giải hợp lệ; việc các đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án mở phiên tòa để xét xử theo quy định.
{2} Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét năm 2021, anh Nguyễn Văn T và chị Trần Thị U có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Quán Hành, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp, không vi phạm quy định tại luật Hôn nhân và Gia đình. Theo lời khai của đương sự: hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ sau khi cưới và chị U đã cùng con về sống li thân tại nhà bố mẹ đẻ cho đến nay. Do tình cảm không còn nên anh xin li hôn. Xét nguyện vọng đó là phù hợp, thỏa mãn quy định của pháp luật và đạo lý xã hội nên cần chấp nhận để cho anh được li hôn chị Trần Thị U .
Về con chung: Xét vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trung K , sinh ngày 06/8/2021. Anh Nguyễn Văn T nhường quyền nuôi con cho chị U ; Chị Trần Thị U cũng có nguyện vọng được nuôi con và thực tế cháu K đang sinh sống cùng chị. Xét đây là sự thỏa thuận tự nguyện nên cần được chấp nhận.
Về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con: do cả hai chưa có yêu cầu nên Tòa án chưa xem xét.
Về tài sản chung, nợ và cho vay nợ chung: không giải quyết.
{3} Về án phí: anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56; 80, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về Lệ phí, án phí Tòa án;
Xử:
{1} Về tình cảm: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Văn T được li hôn chị Trần Thị U .
{2} Về con chung và nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Trung K , sinh ngày 06/8/2021.
Giao con chung là cháu Nguyễn Trung K cho chị Trần Thị U trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc sau khi li hôn. Chưa giải quyết nghĩa vụ đóng góp nuôi con chung do các đương sự chưa có yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn T có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Nếu anh Nguyễn Văn T lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung thì chị Trần Thị U có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của anh Nguyễn Văn T .
Quyết định này được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 luật Hôn nhân- Gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
{3} Về tài sản chung: không giải quyết
{4} Về án phí: anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã đóng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nghi Lộc theo biên lai số 0001062 ngày 09/10/2025; anh T đã nộp đủ án phí.
{5} Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự - VKSND khu vực 2- Nghệ An - phòng THADS khu vực 2- Nghệ An - TAND tỉnh Nghệ An - UBND xã Nghi Lộc. NA - Lưu Hồ sơ | Tm/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Loan Hòa |