vanban.org

Bản án 34/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Phạm Ngọc H.

Về quan hệ hôn nH: Xử cho bà Trương Phạm Ngọc H được ly hôn với ông Võ Thiên NH. Quan hệ hôn nH của bà H và ông NH chấm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Quốc H – sinh ngày 22/12/2020 cho ông Võ Thiên NH trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H trưởng th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa bà H và ông N"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Phạm Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NH DÂN
KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2025
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NH DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH DÂN KHU VỰC 11 – ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hải

Các Hội thẩm nH dân:

1. Bà Nguyễn Thị Uyên

2. Ông Lê Duy Toản

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào – Thư ký Tòa án nH dân khu vực 11 – Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nH dân khu vực 11 – Đồng Nai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nH dân khu vực 11 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nH và gia đình thụ lý số 18/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn; Tranh chấp nuôi con; Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 29/2025/QĐ-TA ngày 23/9/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trương Phạm Ngọc H, sinh năm 2001. Có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt.

ĐKNK tại: 183/25K T, phường 14, quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường Phú Lâm, thành phố Hồ Chí Minh).

Địa chỉ liên lạc: Tổ 12, khu phố R, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Võ Thiên NH, sinh năm 1997. Vắng mặt

Địa chỉ: Thôn Tớc, xã P, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn bà Trương Phạm Ngọc H trình bày:

- Về quan hệ hôn nH: Bà và ông Võ Thiên NH tự nguyện xây dựng gia đình với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nH dân xã L, Hện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước (nay là xã Long Hà, tỉnh Đồng Nai).

Cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc do tính tình không hoà hợp, thường xảy ra bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn trong lời nói. Vợ chồng đã tự hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Bà và ông NH đã sống ly tH nhau từ tháng 9/2024 đến nay. Tình cảm của bà với ông NH không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông NH.

- Về con chung: Bà và ông NH có 01 con chung là Võ Quốc H – sinh ngày 22/12/2020.

Bà đề nghị được nuôi dưỡng cháu H sau ly hôn và không yêu cầu ông NH cấp dưỡng nuôi con.

Ngày 27/9/2025, bà H có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Toà án giải quyết giao cháu H cho ông NH nuôi dưỡng vì từ khi vợ chồng bà sống ly tH nhau đến nay, cháu H ở với bố (ông NH). Hiện nay bà đang làm công nH ở Bình Dương (cũ), phải đi làm từ sáng đến tối, bà lại chưa có nhà riêng, đang thuê nhà trọ. Mặc dù rất muốn nuôi con nhưng bà nhận thấy cháu H ở với bố thì điều kiện sống tốt hơn vì còn có ông bà nội (bố mẹ ông H) phụ chăm sóc cháu và bà không muốn xáo trộn cuộc sống của cháu.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có

* Bị đơn ông Võ Thiên NH trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ nhưng ông NH không đến Toà án làm việc. Do đó, Toà án không lấy được lời khai của ông NH.

* Kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nH và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Về quan hệ hôn nH: Xử cho bà Trương Phạm Ngọc H được ly hôn với ông Võ Thiên NH.

Về con chung: Giao con chung là Võ Quốc H – sinh ngày 22/12/2020 cho ông NH trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và đề nghị của vị Đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

I. Tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trương Phạm Ngọc H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Võ Thiên NH. Ông NH cư trú tại thôn Tân Phước, xã Phú Riềng, tỉnh Đồng Nai nên Toà án nH dân khu vực 11 – Đồng Nai thụ lý giải quyết là đúng quy định tại các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sư: Nguyên đơn bà H có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt; Bị đơn ông NH vắng mặt 02 lần tại phiên toà. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

II. Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nH:

Bà H và ông NH tự nguyện xây dựng gia đình với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nH dân xã L, Hện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước (nay là xã L, tỉnh Đồng Nai) ngày 15/9/2020 (số 52/2020). Việc kết hôn là đúng quy định tại Điều 9 Luật Hôn nH và Gia đình năm 2014 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Bà H có nguyện vọng muốn ly hôn với ông NH vì mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng không thể hàn gắn, vợ chồng đã sống ly tH nhau từ tháng 9/2024 đến nay, mỗi người sống một nơi. Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, ông NH không đến Toà án làm việc mặc dù Toà án nhiều lần triệu tập. Điều này chứng tỏ ông NH không có thiện chí muốn hoà giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng. Mặt khác, theo kết quả xác minh tại địa phương, trong thời gian chung sống, bà H và ông NH bắt đầu phát sinh mâu thuẫn khi đi làm công nH ở Bình Dương, vợ chồng hay cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông NH đã trầm trọng, mục đích hôn nH không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nH và gia đình năm 2014, yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông NH là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà H và ông NH có 01 con chung là cháu Võ Quốc H – sinh ngày 22/12/2020.

Hội đồng xét xử xét thấy: Theo kết quả xác minh tại địa phương, trong thời gian vợ chồng bà H, ông NH sống ly tH nhau, cháu H ở với ông NH và được bố mẹ ông H phụ chăm sóc nên xét thấy cần tiếp tục giao cháu H cho ông NH chăm sóc, nuôi dướng sau ly hôn để đảm bảo tốt nhất cho cháu về điều kiện sống, chăm sóc và học tập. Do đó, nguyện vọng của bà H đề nghị Toà án giao cháu H cho ông NH tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Án phí hôn nH gia đình sơ thẩm: Bà H phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 51, 56, 57, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nH và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị Quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Phạm Ngọc H.

Về quan hệ hôn nH: Xử cho bà Trương Phạm Ngọc H được ly hôn với ông Võ Thiên NH. Quan hệ hôn nH của bà H và ông NH chấm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Quốc H – sinh ngày 22/12/2020 cho ông Võ Thiên NH trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, các bên có quyền qua lại thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2/ Án phí hôn nH gia đình sơ thẩm: Bà Trương Phạm Ngọc H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0028522 ngày 15/7/2025 của Thi hành án dân dân sự tỉnh Đồng Nai. Bà H đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ