- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Trịnh Thị PHương T - Đặng M"
- Tòa quyết gì? Ch p nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên ơn bà Trịnh Thị Phương T về tranh ch p i nhà cho nh với bị ơn là vợ chồng ông Đặng M và bà Nguyễn Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 156 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 34/2025/DS-ST Ngày: 20-6-2025 V/v: Tranh ch p i nhà cho nh . |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Anh Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Linh Sơn.
2. Ông Lê Văn Hiển
- Thư ký phiên tòa: ông Vũ Minh Tiến - là Thư ký của T a án nhân dân huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ s T a án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 214/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ” theo quyết ịnh ưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 giữa các ương sự:
Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Phương T, sinh năm: 1975; Địa chỉ: ư ng 413A - thôn Quảng H a, xã Quảng Lập, huyện H, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
Bị ơn: Vợ chồng ông Đặng M, sinh năm: 1945 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1950; Địa chỉ: số nhà 43 ư ng 2/4, thị tr n Y, huyện H, tỉnh Lâm Đồng (bà Đ có mặt, ông M vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị A, sinh năm: 1972; Địa chỉ: thôn Krăng g , xã X, huyện H, tỉnh Lâm Đồng (có mặt).
2. Ông Trịnh Văn D, sinh năm: 1971; Địa chỉ: thôn Krăng g , xã X, huyện H, tỉnh Lâm Đồng (có ơn xin vắng mặt).
3. Bà Đặng Nguyễn Thị N; Địa chỉ: số ư ng 2 tháng 4, thị tr n Y, huyện H, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).
4. Văn ph ng công chứng Hoàng Đức C; ịa chỉ: ư ng 2 tháng 4, thị tr n Y, huyện H, tỉnh Lâm Đồng. Ngư i ại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: bà Trần Thị Hoa, sinh năm: 1979; ịa chỉ: 118 ư ng 2 tháng 4, thị tr n Y, huyện H, tỉnh Lâm Đồng (bà Hoa có ơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Trịnh Thị Phương T trình bày: Năm 2019, bà có nhận chuyển nhượng thửa t số 234 diện tích 644m2 t bản ồ số 26 thị tr n Y, huyện H gắn liền với thửa t là căn nhà số 43 ư ng 2 tháng 4 từ bà Lê Thị A. Căn nhà và t nói trên do bà Lê Thị A nhận chuyển nhượng của chị Đặng Nguyễn Thị N (ông M, bà Đ ã tặng cho chị N và chị N chuyển nhượng cho bà T). Sau khi hoàn t t thủ tục chuyển nhượng căn nhà và t nói trên thì th y bà T cũng ã cho bà Đ, ông M nh vì ông bà tuổi cao, không có chỗ khác, lúc ó con của ông M và bà Đ là chị h vừa chết, gia ình lo tang lễ, chị Đặng Nguyễn Thị N cũng tại căn nhà này và có viết gi y xin bà cho chị N và ông M, bà Đ nh thêm 02 tháng, ến ngày 10/11/2019 thì chị N và bố mẹ sẽ bàn giao nhà t cho bà. Tuy nhiên sau ó chị N trốn nợ c n bà Đ và ông M vẫn tại căn nhà này. Nhiều lần bà yêu cầu ông M, bà Đ giao lại nhà t cho bà nhưng ông M, bà Đ vẫn tiếp tục làm ảnh hư ng ến quyền và lợi ích hợp pháp của bà vì bà muốn xây dựng lại căn nhà mới trên diện tích t này. Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu kh i kiện buộc bà Đ, ông M giao trả lại toàn bộ căn nhà số 43 ư ng 2 tháng 4 gắn liền với thửa t số 234 diện tích 644m2 t bản ồ số 26 thị tr n Y, huyện H. Bà không ồng ý với ý kiến của bà Đ về việc giao cho bà căn nhà và diện tích t 4m x 40m vì bà nhận chuyển nhượng của bà T toàn bộ diện tích nhà t thửa 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y. Bà thống nh t với sơ ồ o vẽ chi nhánh văn ph ng ăng ký t ai lập ngày 12/4/2023.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: bà không ồng ý với yêu cầu kh i kiện của bà Trang vì ông bà có 06 ngư i con thì không lý gì mà ông bà chỉ tặng cho chị Nhung toàn bộ nhà t của mình mà nhà t này phải chia ều cho các con. Con của bà là chị Đặng Nguyễn Thị N chỉ mượn của bà và ông M gi y chứng nhận QSD t và nói với vợ chồng bà là bố mẹ ủy quyền nhà t này cho chị N ể chị N làm ăn. Việc ủy quyền nhà t là ể cho chị Nhung vay tiền ngân hàng ược nhiều chứ vợ chồng bà già rồi không vay tiền của ngân hàng ược. Khi làm hợp ồng ủy quyền cho chị N thì chị h (con bà – ã chết) ến l y gi y chứng nhận QSD t thì vợ chồng bà ưa rồi sau ó ến Văn ph ng công chứng làm hợp ồng ủy quyền nhưng không hiểu vì sao văn ph ng công chứng và chị Nhung th a thuận như thế nào và tại sao lại tr thành hợp ồng tặng cho quyền sử dụng t. Nay vợ chồng bà ồng ý giao cho bà Trang phần diện tích t 4m x 40m từ lộ giới ra phía sau giáp nhà ông Sáu Trị (bên trái lô t theo hướng nhìn ra mặt tiền quốc lộ 27) với tổng diện tích là 160m2 chứ không ồng ý giao toàn bộ phần nhà và t cho bà Trang. Sau khi bà giao cho bà Trang 160m2 t nói trên thì bà Trang muốn ập nhà xây lại như thế nào thì t y bà Trang. Đó cũng chính là ý chí của bà và ông M muốn cho chị Nhung t ể giao cho bà Trang trừ nợ và chỉ cho như vậy thôi chứ không cho toàn bộ t và nhà cho chị N. Bà thống nh t với sơ ồ o vẽ chi nhánh văn ph ng ăng ký t ai lập ngày 12/4/2023.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị A cho biết: Trước ây, chị h và chị N có vay tiền của bà ể làm ăn. Do chị N và chị h không có khả năng trả nợ, nên chị N ã chuyển nhượng diện tích nhà t số 43 ư ng 2 tháng 4, thuộc thửa t số 234, diện tích 644m2, t bản ồ số 26, thị tr n Y, huyện H cho bà ể trừ nợ với số tiền hai bên th a thuận là 6.694.000.000 (trong ó có số tiền chị Nhung và chị Hoa nợ của bà là 2.670.000.000 và 4.000.000.000 24.000.000 tiền lãi bà thanh toán cho ngân hàng ể l y gi y chứng nhận QSD t của thửa 234, t bản ồ số 26 chị N thế ch p vay vốn ngân hàng). L c ó, vì muốn l y ược khoản nào thì l y chứ thực tế bà cũng không muốn l y nhà t của chị Nhung vì giá này là quá cao. Sau khi hoàn t t thủ tục công chứng chuyển nhượng nhà t, chị N có nói rằng bố mẹ chị ang trong nhà và xin bà cho chị N thêm vài tháng ể tìm chỗ khác và bàn giao nhà cho bà T. Chị h cũng có nói với bà T rằng nếu bà T hỗ trợ cho chị 200.000.000 thì chị sẽ ưa bố mẹ i chỗ khác ể bàn giao nhà cho bà. Sau ó, bà T chưa có nhu cầu sử dụng nhà nên vẫn chưa i nhà. Do bà cũng nợ của bà Trang 5.000.000.000 mà chưa có tiền trả nợ nên bà cũng chuyển nhượng nhà t này cho bà Trang ể c n trừ nợ cho bà Trang với giá là 5.000.000.000 . L c này, chị N lại tiếp tục xin cho chị và bố mẹ chị (ông M và bà Đ) nh . Khi bà Trang i nhà thì ng l c chị h chết, nên chị N ã viết gi y xin nh ến ngày 10/11/2019. Sau ó chị N b nhà trốn nợ, c n bà Đ và ông M thì kiên quyết không bàn giao nhà t cho bà và cho ến nay. Bà thống nh t với ý kiến của bà Trang ề nghị T a án giải quyết buộc ông M và bà Đ bàn giao nhà t cho bà Trang.
Quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai gửi đến Tòa án ngày 05/5/2025 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Hoa, đại diện theo ủy quyền của Văn phòng công chứng Hoàng Đức C trình bày: Vào ngày 10 tháng 08 năm 2017, Văn ph ng công chứng Võ Thị Thanh Hương (nay là Văn ph ng công chứng Hoàng Đức C) có nhận yêu cầu công chứng Hợp ồng tặng cho quyền sử dụng t số công chứng 3993, quyền số 02/2017TP/CC-SCC/HĐGD ược lập b i ông Đặng M, bà Nguyễn Thị Đ, chị Đặng Nguyễn Thị N. Nội dung: công chứng Hợp ồng tặng cho quyền sử dụng t ối với quyền sử dụng t tại thị tr n Y, huyện H, tỉnh Lâm Đồng, căn cứ theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng t quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với t số BI 673079 do UBND huyện H c p ngày 28/02/2012. Về trình tự thủ tục Văn ph ng công chứng Hoàng Đức C ã làm ng theo quy ịnh tại Điều 40, Điều 41 của Luật Công chứng 2014. Việc công chứng Hợp ồng tặng cho quyền sử dụng t nêu trên là hoàn toàn ng, ề nghị T a án giải quyết theo quy ịnh pháp luật.
Tại phiên t a, bà Trịnh Thị Phương T cho rằng hoàn cảnh của bà Đ và ông M ang khó khăn nên bà ồng ý hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Đặng M số tiền 200.000.000 ể ông bà tìm kiếm chỗ khác.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Trịnh Văn D thống nh t với ý kiến của bà Lê Thị A, không có ý kiến gì khác.
Bị ơn ông Đặng M và ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đặng Nguyễn Thị N ược t a án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không thể hiện ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H có quan điểm:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh ch p i nhà cho nh theo quy ịnh tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện H.
Về ngư i tham gia tố tụng: T a án xác ịnh ng ngư i tham gia tố tụng.
Việc thu thập chứng cứ, l y l i khai của ương sự, việc c p tống ạt các gi y t cho Viện kiểm sát và những ngư i tham gia tố tụng ng quy ịnh của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên t a sơ thẩm, Thẩm phán, Hội ồng xét xử ch p hành ầy ủ và ng các quy ịnh của pháp luật tố tụng dân sự. Các ương sự ược thực hiện ầy ủ các quyền và nghĩa vụ của mình riêng bà Đặng Nguyễn Thị N không ch p hành ng nghĩa vụ tố tụng theo quy ịnh tại các iều 70, 73 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án ề nghị Hội ồng xét xử ch p nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên ơn bà Trịnh Thị Phương T, buộc ông M và bà Đ bàn giao cho bà Trịnh Thị Phương T căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y diện tích 644m2 ( o ạc thực tế là 640m2); Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trang về việc thanh toán cho ông M và bà Đ số tiền 200.000.000 ể tìm chỗ khác. Buộc các ương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy ịnh của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án ược thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội ồng xét xử nhận ịnh:
Về quan hệ pháp luật tranh ch p: Theo gi y viết tay do nguyên ơn cung c p có tiêu ề “Gi y cam kết giao nhà” ghi ngày 10/9/2019 thể hiện nội dung chị N xin kh t lại th i gian giao nhà cho bà Trang ến ngày 10/11/2019. Bà Trang cho rằng bà cho gia ình chị N, ông M, bà Đ nh nhưng nay chị N trốn tránh thực hiện nghĩa vụ c n bà Đ và ông M thì cho rằng ông bà không chuyển nhượng nhà t cho chị N mà chỉ ủy quyền gi y chứng nhận QSD t cho chị N ể chị N vay tiền ngân hàng rồi không hiểu lý do gì mà chị N lại làm thủ tục chuyển nhượng nhà t cho bà Lê Thị A sau ó bà T lại chuyển nhượng nhà t cho bà Trịnh Thị Phương T nên bà Đ chỉ ch p nhận giao cho bà Trang phần nhà và diện tích t 4mx40m tại thửa t 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y nên phát sinh tranh ch p. Vì vậy, Hội ồng xét xử xác ịnh ây là vụ án “Tranh chấp đòi nhà cho ở nhờ” giữa nguyên ơn bà Trịnh Thị Phương T, bị ơn là bà Nguyễn Thị Đ và ông Đặng M c ng những ngư i có quyền lơi nghĩa vụ liên quan là ông Trịnh Văn D, bà Lê Thị A, chị Đặng Nguyễn Thị N, Văn ph ng công chứng Hoàng Đức C. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của T a án nhân dân huyện H theo quy ịnh tại khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, iểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về sự vắng mặt của ương sự:
Những ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: Trịnh Văn D, Văn ph ng công chứng Hoàng Đức C có ơn xin xét xử vắng mặt. Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Đặng Nguyễn Thị N c ng bị ơn là ông Đặng M ã ược triệu tập hợp lệ ến lần thứ hai theo ng quy ịnh tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vắng mặt không vì sự kiện b t khả kháng hoặc tr ngại khách quan. Do ó, Hội ồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các ương sự này theo thủ tục chung và dành quyền kháng cáo vắng mặt cho các ương sự này theo quy ịnh.
Về nội dung:
Xét nguồn gốc, quá trình hình thành và việc chuyển quyền sử dụng t giữa các ương sự:
Xét diện tích, nguồn gốc căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y và quá trình chuyển quyền sử dụng t thì th y rằng: Theo Gi y chứng nhận QSD t số BI673079 do UBND huyện H c p cho ông Đặng M và bà Nguyễn Thị Đ vào ngày 28/02/2012. Ngày 10/8/2017 ông Đặng M và bà Nguyễn Thị Đ có ký công chứng hợp ồng tặng cho thửa t này cho chị Đặng Nguyễn Thị N ( ăng ký ngày 10/8/2017). Ngày 30/10/2017 thì chị N ã ký công chứng hợp ồng chuyển nhượng cho bà Lê Thị A diện tích nhà t nêu trên ( ăng ký ngày 31/10/2017) và ến ngày 09/01/2019 thì bà T ã ký công chứng hợp ồng chuyển nhượng thửa t và căn nhà gắn liền với t cho bà Trịnh Thị Phương T ( ăng ký ngày 15/01/2019). Theo Bản vẽ o ạc do Chi nhánh Văn ph ng ăng ký t ai huyện H lập ngày 12/4/2023 thì diện tích theo Gi y chứng nhận QSD t là 644m2 nhưng tổng diện tích o ạc theo hiện trạng là 640m2 thuộc thửa t số 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y, trên t có căn nhà tại vị trí G1 và G2 có tổng diện tích 155m2. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a, bà Trang, bà Đ thống với kết quả o ạc này.
Xét tính hợp pháp của việc tặng cho căn nhà số 43 và quyền sử dụng thửa t số 234 giữa bà Đ, ông M cho chị N th y rằng: theo bà Nguyễn Thị Đ cho biết thì con bà là chị Đặng Nguyễn Thị N mượn của bà và ông M gi y chứng nhận QSD t và nói với vợ chồng bà là bố mẹ ủy quyền nhà t này cho chị N ể chị N làm ăn. Việc ủy quyền nhà t là ể cho chị Nhung vay tiền ngân hàng ược nhiều chứ vợ chồng bà già rồi không vay tiền của ngân hàng ược. L c làm hợp ồng ủy quyền cho chị N thì chị h con bà Đ ến l y gi y chứng nhận QSD t thì vợ chồng bà mới ưa rồi sau ó ến ph ng công chứng Hoàng Đức C làm hợp ồng ủy quyền sau ó không hiểu sao văn ph ng công chứng và chị Nhung th a thuận như thế nào, lý do làm sao mà tr thành hợp ồng tặng cho quyền sử dụng t. Ngược lại, theo Văn ph ng công chứng Hoàng Đức C thì vào ngày 10 tháng 08 năm 2017 Văn ph ng công chứng ã thực hiện ng khi công chứng Hợp ồng tặng cho quyền sử dụng t số công chứng 3993, quyền số 02/2017TP/CC-SCC/HĐGD ược lập b i ông Đặng M, bà Nguyễn Thị Đ, chị Đặng Nguyễn Thị N ối với quyền sử dụng t tại thị tr n Y, huyện H, tỉnh Lâm Đồng căn cứ theo Gi y chứng nhận quyền sử dụng t quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với t số BI 673079 do UBND huyện H c p ngày 28/02/2012 theo quy ịnh tại Điều 40, Điều 41 của Luật Công chứng 2014. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a, bà Đ không ưa ra ược b t kỳ tài liệu chứng cứ gì khác ể chứng minh việc bà và ông M chỉ ủy quyền mà không phải là tặng cho chị N căn nhà số 43 gắn liền thửa t số 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y, không có yếu tố gian dối hay ép buộc gì trong việc thực hiện giao dịch này. Hợp ồng tặng cho này cũng ược ăng ký sang tên cho chị N theo ng quy ịnh của pháp luật, bà Đ và ông M th i iểm ó cũng không có ý kiến gì. Như vậy, có thể th y Văn ph ng công chứng Hoàng Đức C ã thực hiện ng trong việc công chứng hợp ồng tặng cho quyền sử dụng t từ ông M, bà Đ cho chị N.
Xét quá trình chuyển nhượng từ chị N cho bà T và việc bà T chuyển nhượng cho bà Trang ối với căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234 thì th y rằng: theo l i khai của bà T thì chị N có chuyển nhượng căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234 nêu trên cho bà T ể c n trừ số nợ 6.694.000.000 (bao gồm số nợ 2.670.000.000 chị N nợ bà T và 4.000.000.000 và 24.000.000 tiền lãi bà T ã chuyển vào ngân hàng ể l y gi y chứng nhận QSD t thửa 234 ra xóa thế ch p ký hợp ồng chuyển nhượng QSD t cho bà T ể trừ nợ. Quá trình giải quyết vụ án, chị N ã ược T a án triệu tập hợp lệ ể thể hiện ý kiến của mình ối với l i trình bày của bà Lê Thị A nhưng luôn vắng mặt, không có ý kiến gì về l i trình bày của bà Lê Thị A. Việc chuyển nhượng căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234 giữa chị N với bà T cũng ã ược công chứng và ăng ký ng theo quy ịnh của pháp luật. Theo l i khai của bà Trang và bà T thì hai bà thống nh t bà T có chuyển nhượng cho bà Trang căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y ể trừ số nợ 5.000.000.000 . Việc chuyển nhượng nhà t từ chị N cho bà T và bà T chuyển nhượng lại cho bà Trang cũng ều ược công chứng hợp pháp và ã ăng ký theo quy ịnh của pháp luật.
Mặt khác, tại phiên t a, bà Đ cho biết vào th i iểm bà T i nhà thì chị h bị bệnh chưa chết. L c ó bà có thương lượng với bà T và cả bà Trang rằng sau này nếu bà T hay bà Trang cho bà 150.000.000 ến 200.000.000 thì bà sẽ giao nhà ể ưa chị h i nơi khác ể sinh sống chữa bệnh nhưng nay chị h chết rồi thì bà không ồng ý nữa. Quá trình giải quyết vụ án, bà Đ cũng muốn giao cho bà Trang diện tích nhà t 4mx40m tại thửa 234 gắn với căn nhà. Điều ó cho th y rằng xuyên suốt quá trình chị N chuyển nhượng nhà t cho bà T và bà T chuyển nhượng nhà t cho bà Trang thì bà và ông M ều biết và có l c muốn thực hiện nghĩa vụ giao nhà cho bà T, bà Trang nhưng sau lại ổi ý và cố ý trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình với cả bà T và sau này là bà Trang.
Như vậy có thể th y rằng việc chuyển quyền s hữu và sử dụng ối với căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234 diện tích 644m2 ( o ạc thực tế là 640m2) thửa t số 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y giữa ông M bà Đ cho chị N, giữa chị N cho bà T và giữa bà T cho bà Trang là hợp pháp, ng theo quy ịnh của pháp luật. Do vậy, bà Trang có quyền sử dụng hợp pháp ối với với căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234, t bản ồ số 26 thị tr n Y với diện tích 644m2 ( o ạc thực tế là 640m2).
Xét yêu cầu i nhà và t của nguyên ơn th y rằng:
Theo gi y viết tay do nguyên ơn cung c p có tiêu ề “Gi y cam kết giao nhà” ghi ngày 10/9/2019 thể hiện nội dung chị N có chuyển nhượng cho bà T X căn nhà số 43 ư ng 2 Tháng 4, thị tr n Y và bà T ã chuyển nhượng cho bà Trịnh Thị Phương T Quảng Lập. Chị Trang ã cho chị N nh lâu nay. Nay nhà chị N có việc, chị gái m t nên chị N xin kh t lại th i gian là 02 tháng. Cụ thể là ngày 10/11/2019 gia ình chị N sẽ giao nhà cho bà Trang.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a cả bà Trang, bà Đ, bà T ều thừa nhận chị N có viết gi y này và viết vào th i iểm chị h con của bà Đ chết. Theo bà Trang cho biết vào th i iểm ó bà ã i lại nhà nhưng do bà Đ, ông M không có chỗ làm ám tang cho chị h nên bà ã ồng ý cho bà Đ, ông M và chị N lại thêm 02 tháng thì chị N mới viết gi y cam kết giao nhà cho bà Trang. Vào th i iểm viết gi y này thì chị N ang c ng ông M, bà Đ ang trên căn nhà số 43 này ã ược chuyển nhượng hợp pháp cho bà Trang. Tại biên bản ối ch t ngày 15/8/2023 bà Đ cho biết khi chị h chết thì bà có nghe nói bà T không cho ưa quan tài chị h về nhà làm ám tang nhưng gia ình l c ó bối rối nên chị N viết gi y xin cho nh ể có chỗ lo ám tang cho chị h. Cũng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a, bà Đ cũng thống nh t sẽ bàn giao cho bà Trang diện tích t tại vị trí căn nhà nhưng chỉ có chiều rộng x chiều dài là 4m x 40m tương ương với 160m2 xem như bà cho chị N diện tích t này ể thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Qua những tình tiết này có thể th y rằng bà Đ ưa ra lập luận do bà và ông M không có nhận b t kỳ khoản tiền nào từ bà T, bà Trang, không tặng cho quyền sử dụng t cho chị N ể cho rằng ó là căn cứ ể bà và ông M không bàn giao nhà t cho bà Trang là không ng b i lẽ việc chuyển quyền sử dụng t của bà và ông M cho chị N là hợp pháp như ã phân tích phần trên nên bà Trang xác lập quyền s hữu và quyền sử dụng t ối với căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234 diện tích 644m2 ( o ạc thực tế là 640m2) thuộc t bản ồ số 26 thị tr n Y là hoàn toàn hợp pháp.
Theo quy ịnh tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Do vậy, việc bà Đ, ông M cố ý tiếp tục chiếm hữu, sử dụng căn nhà số 43 gắn liền với thửa t số 234 diện tích 644m2 ( o ạc thực tế là 640m2) ã vi phạm nghiêm tr ng ến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trịnh Thị Phương T. Do vậy, Hội ồng xét xử th y rằng yêu cầu kh i kiện của bà Trịnh Thị Phương T là có căn cứ và cần ược ch p nhận.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a, bà Trịnh Thị Phương T ồng ý hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Đặng M số tiền 200.000.000 ể ông bà tìm kiếm chỗ khác. Xét ý kiến này của bà Trang là tự nguyện và hoàn toàn ph hợp với quy ịnh của pháp luật, ạo ức xã hội và hoàn cảnh thực tế của ông M, bà Đ nên Hội ồng xét xử ghi nhận.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm ịnh tại chỗ, o vẽ hiện trạng tài sản là 2.740.000 . Tại phiên t a hôm nay, bà Trịnh Thị Phương T nhận chịu số tiền chi phí tố tụng này và ã nộp ủ nên Hội ồng xét xử không ề cập ến.
Về án phí: Các ương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy ịnh của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, Điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 146, 147, 156, 157, 205, 211, 220, 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội;
Xử:
1. Ch p nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên ơn bà Trịnh Thị Phương T về tranh ch p i nhà cho nh với bị ơn là vợ chồng ông Đặng M và bà Nguyễn Thị Đ.
Buộc ông Đặng M và bà Nguyễn Thị Đ phải giao cho bà Trịnh Thị Phương T căn nhà số 43 gắn liền với toàn bộ thửa t số 234 diện tích 644m2 ( o ạc thực tế là 640m2) thuộc t bản ồ số 26 thị tr n Y, huyện H, tỉnh Lâm Đồng (như sơ đồ đo vẽ đính kèm).
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trịnh Thị Phương T về việc thanh toán cho bà Nguyễn Thị Đ và ông Đặng M số tiền 200.000.000 ể ông M, bà Đ tìm kiếm chỗ khác.
3. Kể từ ngày bản án, quyết ịnh có hiệu lực pháp luật ( ối với trư ng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ ộng ra quyết ịnh thi hành án) hoặc kể từ ngày có ơn yêu cầu thi hành án của ngư i ược thi hành án ( ối với các khoản tiền phải trả cho ngư i ược thi hành án) cho ến khi thi hành án xong, t t cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án c n phải chịu khoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi su t quy ịnh tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Buộc ông Đặng M và bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 tiền án phí dân sự sơ thẩm trên yêu cầu của bà Trịnh Thị Phương T ược T a án ch p nhận. Buộc bà Trịnh Thị Phương T phải chịu 10.000.000 tiền án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền thanh toán cho bị ơn nhưng ược trừ vào số tiền tạm ứng án phí ã nộp là 300.000 theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009048 ngày 31/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H. Bà Trịnh Thị Phương T còn phải nộp 9.700.000 án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: các ương sự có quyền làm ơn kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng ương sự vắng mặt tại phiên t a có quyền làm ơn kháng cáo trong th i hạn 15 ngày kể từ ngày nhận ược bản án hoặc bản án ược tống ạt hợp lệ ể yêu cầu T a án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử ph c thẩm theo quy ịnh của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự ./.
| Nơi nhận: - T a án ND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - Các ương sự; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Đình Anh Vũ |