- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Trung S - GRTTCC - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Phạm Trung S cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 01-02-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Quỳnh Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn V2 Hương
Bà Nguyễn Thị Minh PH.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai V án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa V án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Trung S, sinh ngày 28 tháng 11 năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 6A ngõ 458 Nguyễn V2 Linh, phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ V2 hoá: lớp 12/12; dân tộc: kinh; giớ i tinh: N; tôn giá
́o: không; quốc ti ̣ch: Viê ̣t N; con ông Phạm V2 Th và bà Trần Thị Thu H; có vợ là Nguyễn Thùy L (đã ly hôn) và có 02 con; lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; bi ̣ cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/5/2023; có mặt.
- Bị hại:
1.1. AAnnhh NNgguuyyễễnn VV22 TT,, ssiinnhh nnăămm 11998888;; đđịịaa cchhỉỉ:: 5577//9977//9966 CChhợợ HHàànngg,, DDưư HHàànngg KêKênnhh,, qquuậậnn LLêê CChhâânn,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
2.2. AAnnhh TTrrầầnn TThhếế TTrr,, ssiinnhh nnăămm 11997733;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 5544BB nnggõõ 338844 LLạạcchh TTrraayy,, qquuậậnn NgNgôô QQuuyyềềnn,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
3.3. AAnnhh NNgguuyyễễnn AAnnhh HH,, ssiinnhh nnăămm 11998811;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 66CC//115533 đđưườờnngg HHaaii BBàà TrTrưưnngg,, pphhưườờnngg AAnn BBiiêênn,, qquuậậnn LLêê CChhâânn,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
4.4. AAnnhh LLêê VV22 DD,, ssiinnhh nnăămm 11999977;; đđịịaa cchhỉỉ:: XXóómm 11 tthhôônn ĐĐààoo YYêêuu,, xxãã HHồồnngg ThThááii,, hhuuyyệệnn AAnn DD,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
5.5. AAnnhh BBùùii ĐĐ QQ,, ssiinnhh nnăămm 11999900;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 1100AA//115555//222299 MMiiếếuu HHaaii XXãã,, phphưườờnngg DDưư HHàànngg KKêênnhh,, qquuậậnn LLêê CChhâânn,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
6.6. AAnnhh NNgguuyyễễnn ĐĐììnnhh TTHH,, ssiinnhh nnăămm 11999900;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 1111//220088 LLạạcchh TTrraayy,, phphưườờnngg NNggôô QQuuyyềềnn,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
7.7. AAnnhh VVũũ NNggọọcc KKhh,, ssiinnhh nnăămm 11999944;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 7700//3366 CC88 pphhưườờnngg VVạạnn MMỹỹ,, ququậậnn NNggôô QQuuyyềềnn,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
8.8. ÔÔnngg VVũũ HHooààii NN,, ssiinnhh nnăămm 11995599;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 7744 llôô 33,, kkhhuu 9977 BBạạcchh ĐĐằằnngg,, phphưườờnngg HHạạ LLýý,, qquuậậnn HHồồnngg BBàànngg,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. CCóó mmặặtt..
9.9. ÔÔnngg NNgguuyyễễnn TTiiếếnn VV,, ssiinnhh nnăămm 11996622;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 331166 QQuuáánn RRẽẽ,, xxãã MMỹỹ ĐĐ,, huhuyyệệnn AAnn LLããoo,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
1010.. AAnnhh NNgguuyyễễnn MMiinnhh ĐĐ,, ssiinnhh nnăămm 11999944 vvàà cchhịị ĐĐặặnngg NNggọọcc TThhủủyy ssiinnhh nnăămm 19199922;; đđịịaa cchhỉỉ:: TTââyy NNôônngg XXáá,, xxãã TTâânn TTiiếếnn,, hhuuyyệệnn AAnn DD,, HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
1111.. AAnnhh VVũũ TTùùnngg LL,, ssiinnhh nnăămm 11999933;; đđịịaa cchhỉỉ:: 221122 TTaamm BBạạcc,, pphhưườờnngg PPhhaann BBộộii ChChââuu,, qquuậậnn HHồồnngg BBàànngg,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
1212.. AAnnhh ĐĐỗỗ MMạạnnhh HH11 ssiinnhh nnăămm 22000066;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 55 lliiềềnn kkềề 11,, cchhuunngg ccưư HHooàànngg HuHuyy,, xxãã AAnn ĐĐồồnngg,, hhuuyyệệnn AAnn DD,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
1313.. CChhịị NNgguuyyễễnn TThhịị TThhaannhh PPHH,, ssiinnhh nnăămm 11997777;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 2244 LLýý TThhưườờnngg KiKiệệtt,, pphhưườờnngg HHooàànngg VV22 TThhụụ,, qquuậậnn HHồồnngg BBàànngg,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. VVắắnngg mmặặtt..
1414.. ÔÔnngg NNgguuyyễễnn DDaannhh VV22 ssiinnhh nnăămm 11996655;; đđịịaa cchhỉỉ:: SSốố 77//336633 MMiiếếuu HHaaii XXãã,, phphưườờnngg DDưư HHàànngg KKêênnhh,, qquuậậnn LLêê CChhâânn,, tthhàànnhh pphhốố HHảảii PPhhòònngg.. CCóó mmặặtt..
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ V án và diễn biến tại phiên toà, nội dung V án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 31/7/2022, Phạm Trung S điều khiển xe ô tô biển kiểm soát: 15A-185.65 đi theo hướng từ đường Quang Trung về chợ Sắt, khi đến khu vực ngã ba Chợ Sắt - đập Tam Kỳ đã đâm va vào phía trước xe ô tô biển kiểm soát: 15A-735.47 do anh Nguyễn V2 T sinh năm: 1988, nơi thường trú: Số 57/97/96 Chợ Hàng, Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng điều khiển. Sơn tiếp tục điều khiển xe đi vào đường Tam Bạc theo hướng từ chợ Sắt về cầu Lạc Long rồi quay xe lại theo hướng từ Cầu Lạc Long về chợ Sắt thì đã đâm va vào nhiều PH tiện (bao gồm xe ô tô, xe mô tô, xe máy điện). Cụ thể đâm va vào: xe ô tô biển kiểm soát: 15A - 750.80 tại khu vực ngã ba Ký Con - Tam Bạc do anh Trần Thế Tr sinh năm: 1973, nơi thường trú: số 54B ngõ 384 Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng điều khiển; xe ô tô biển kiểm soát: 15A - 428.09 do anh Nguyễn Anh H, sinh năm: 1981, nơi thường trú: số 6C/152 đường Hai Bà Trưng, An Biên, Lê Chân, Hải Phòng điều khiển đi cùng chiều, phía trước làm cho xe ô tô của anh H lao lên vỉa hè trước cửa quán cà phê Bắc Việt (quán Zozo BBQ) số 103 đường Tam Bạc và va đập vào 04 chiếc xe mô tô đang dựng trên vỉa hè gồm: xe mô tô biển kiểm soát: 16R7-4930 của anh Lê V2 D, sinh năm: 1997, nơi ở: thôn 1 xóm Đào Yêu, Hồng Thái, An D, Hải Phòng; xe mô tô biển kiểm soát: 15G1-094.83 của anh Bùi Đ Q, sinh năm: 1990, nơi ở: số 10A/155/229 Miếu Hai Xã, Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng; xe mô tô biển kiểm soát: 15B2-432.74 của anh Nguyễn Đình TH, sinh năm: 1990, nơi ở: số 11/208 Lạch Tray, Ngô Quyền, Hải Phòng; xe mô tô biển kiểm soát: 15B1-949.24 của anh Vũ Ngọc Kh, sinh năm: 1994, nơi ở: số 70/36 C8 Vạn Mỹ, Ngô Quyền, Hải Phòng. Sau đó Sơn tiếp tục điều khiển xe đâm va vào 03 xe mô tô tại khu vực trước cửa số nhà 232 Tam Bạc gồm: xe mô tô biển kiểm soát: 15S5-4338 do ông Vũ Hoài N, sinh năm: 1959, trú tại: số 74 lô 3 khu 97 Bạch Đằng, Hạ Lý, Hồng Bàng, Hải Phòng điều khiển; xe mô tô biển kiểm soát 16N8-3113 do ông Nguyễn Tiến V sinh năm: 1962, trú tại: số 316 Quán Rẽ, xã Mỹ Đ, An Lão, Hải Phòng điều khiển và xe mô tô biển kiểm soát 15B3- 193.72 do anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 1994, trú tại: Tân Tiến, An D, Hải Phòng điều khiển chở vợ là chị Đặng Ngọc Thuỷ ngồi phía sau làm cho xe mô tô của anh Đ va đập vào phía sau xe ô tô biển kiểm soát 15A-483.54 của anh Vũ Tùng L, sinh năm: 1993, trú tại: 212 Tam Bạc, Phan Bội Châu, Hồng Bàng, Hải Phòng đang đỗ ven đường. Xe của Sơn tiếp tục lao lên vỉa hè đâm va vào 06 PH tiện xe mô tô, xe máy điện đang dựng trên vỉa hè trước cửa số 172-174 Tam Bạc, gồm: xe mô tô biển kiểm soát: 15AA-210.62 của anh Đỗ Mạnh H1, sinh năm: 2006, nơi ở: số 5 liền kề 1 Chung cư Hoàng Huy, An Đồng, An D; xe mô tô biển kiểm soát: 16F8-4688, xe máy điện biển kiểm soát: 15MĐ4-039.37, xe mô tô nhãn hiệu ALLY màu đen, xe mô tô nhãn hiệu DK Roma màu xanh của chị Nguyễn Thị Thanh PH, sinh năm: 1977, nơi ở: số 24 Lý Thường Kiệt, Hoàng V2 Thụ, Hồng Bàng, Hải Phòng; xe mô tô biển kiểm soát: 16L6-0567 của ông Nguyễn Danh V2, sinh năm: 1965, nơi ở: số 7/363 Miếu Hai Xã, Dư Hàng Kênh, Lê Chân, Hải Phòng. Sau đó, xe ô tô do Sơn điều khiển đâm va vào bậc lên xuống trước cửa số nhà 23 Tam Bạc thì mới dừng lại và Sơn đến Công an phường Phan Bội Châu đầu thú. Hậu quả: ông Vũ Hoài N, ông Nguyễn Tiến V, anh Nguyễn Minh Đ và chị Đặng Ngọc Thủy bị thương tích được đưa đi Bệnh viện cấp cứu, các PH tiện trên bị hư hỏng.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu thập các dấu vết: đường Tam Bạc đoạn chạy qua quán "ZOZO BBQ” tới nhà số 22 Tam Bạc phường Phan Bội Châu, quận Hồng Bàng, Hải Phòng là đường hai chiều có vạch kẻ màu vàng đứt đoạn phân chia chiều đường. Đường dài theo hướng Đông Tây; hướng Đông đi về cầu Lạc Long; hướng Tây đi về ngã tư An D; hướng Bắc là vỉa hè rộng 5m và giáp sông Tam Bạc; hướng N là vỉa hè rộng trung bình 6,5m và khu dân cư. Mặt đường trải nhựa apphan tương đối bằng phẳng, rộng 8,7m. Hệ thống đèn đường chiếu sáng nằm trên vỉa hè phía Bắc đường hiện còn hoạt động; Biên bản ghi nhận việc đánh số thứ tự vị trí nạn nhân, PH tiện, tang vật, dấu vết; xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn. Trong quá trình khám nghiệm hiện trường đã tiến hành vẽ sơ đồ hiện trường, chụp ảnh, đo đạc..
Tại bản kết luận định giá tài sản số 67 ngày 30/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận Hồng Bàng kết luận: tổng giá trị tài sản bị thiệt hại của 15 PH tiện (02 xe ô tô, 13 xe mô tô và xe máy điện) là 120.563.000 đồng.
Tại bản kết luận giám định dấu vết, vị trí và cơ chế hình thành dấu vết trên các PH tiện số 23/KL-KTHS(CH) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận về các dấu vết va chạm trên xe ô tô biển kiểm soát 15A-185.65 do Phạm Trung S điều khiển phù hợp với các dấu vết để lại trên các xe: ô tô biển kiểm soát 15A-428.09; xe mô tô biển kiểm soát 15B3-193.72; xe mô tô biển kiểm soát 16S5-4338; xe mô tô biển kiểm soát 16N8-3113; xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ4-039.37; xe gắn máy màu đen nhãn hiệu ALLY không đeo biển kiểm soát; xe gắn máy màu xanh nhãn hiệu DK Bike không đeo biển kiểm soát; xe mô tô biển kiểm soát 16R7-4930; xe mô tô biển kiểm soát 15G1-094.83.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 412/2022/TgT ngày 29/8/2022 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận về thương tích của ông Nguyễn Tiến V: “Tổng tỷ lệ phần trăm tồn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích gây nên theo PH pháp cộng tại Thông tư là: 23% (hai mươi ba phần trăm)”.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 751/2022/TgT ngày 20/02/2023 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận về thương tích của ông Vũ Hoài N: “Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích gây nên theo PH pháp cộng tại Thông tư là: 66% (sáu mươi sáu phần trăm)”.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 253/2023/KLTgTHS-TTPYHP ngày 17/5/2023 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận về xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Minh Đ qua hồ sơ là 20% (Hai mươi phần trăm).
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể qua hồ sơ số 254/2023/KLTgTHS-TTPYHP ngày 23/5/2023 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận về xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đặng Ngọc Thuỷ qua hồ sơ là 10% (Mười phần trăm).
Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 42/KLGĐ ngày 19/4/2023 của Trung tâm Pháp y tâm thần khu vực miền núi phía Bắc kết luận: “tại thời điểm thực hiện hành vi ngày 31/7/2022, Phạm Trung S không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi. Tại thời điểm giám định, Phạm Trung S không bị bệnh tâm thần, đủ khả năng nhận thức và đủ khả năng điều khiển hành vi”.
Quá trình điều tra xác định khi điều khiển ô tô gây tai nạn, Phạm Trung S có Giấy phép lái xe đúng quy định, không sử dụng rượu, bia, chất kích thích.
Vật chứng: đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 15A-185.65 do Phạm Trung S điều khiển gây ra tai nạn và các PH tiện liên quan trong V án, sau khi hoàn tất các thủ tục điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp.
Về dân sự: bị can Phạm Trung S cùng gia đình đã bồi thường cho ông Vũ Hoài N, Nguyễn Tiến V, Nguyễn Anh H, Lê V2 D, Bùi Đ Q, Nguyễn Đ TH, Vũ Ngọc Kh, Nguyễn Minh Đ, Đỗ Mạnh H1, Vũ Tùng L, Nguyễn Danh V2, Nguyễn Thị Thanh PH và Đặng Ngọc Thuỷ. Tất cả những người đã được bồi thường không yêu cầu bồi thường gì khác. Anh Nguyễn V2 T và Trần Thế Tr từ chối định giá tài sản bị thiệt hại và không yêu bồi thường.
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Trung S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, với Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm PH tiện, Kết luận giám định, lời khai của các bị hại và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng.
Tại phiên tòa: Bị hại Vũ Hoài N trình bày tại giai đoạn điều tra bị cáo Sơn đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 150.000.000 đồng, bị hại N đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, không còn yêu cầu nào khác về dân sự đối với bị cáo. Tại phiên tòa ông N xuất trình các tài liệu phô tô thể hiện việc điều trị thương tích phát sinh sau ngày bị cáo đã bồi thường và đề nghị bị cáo phải bồi thường tiếp số tiền 57.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó bị hại N đề nghị được tự thỏa thuận với bị cáo mà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu không thỏa thuận được thì ông N sẽ khởi kiện bằng một V án dân sự sau để yêu cầu bị cáo bồi thường. Ông N đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại Nguyễn Danh V2 không còn yêu cầu gì khác đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKSHB ngày 06-01-2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố Phạm Trung S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c,d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c,d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Trung S từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị Hội đồng xét xử ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
Giao bị cáo Phạm Trung S cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa PH trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho tất cả bị hại và các bị hại không còn yêu cầu khác tại phiên tòa nên không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, phần lời nói sau cùng bị cáo gửi lời xin lỗi tới các bị hại và xin được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung V án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ V án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại Vũ Hoài N và Nguyễn Danh V2 có mặt, các bị hại khác đều vắng mặt đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Xét những người này đã có lời khai trong hồ sơ V án, đã nhận đầy đủ bồi thường và có đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không còn yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên việc vắng mặt tại phiên tòa của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử V án, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt những người trên.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” như nội dung đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của các bị hại, Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm PH tiện và các tài liệu khác có trong hồ sơ V án, đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 31/7/2022, Phạm Trung S điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 15A- 185.65 đi trên đường tại khu vực ngã ba tập Tam Kỳ-Chợ Sắt và trên đường Tam Bạc, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng do thiếu quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn, đã gây ra tai nạn liên hoàn với các xe ô tô, xe mô tô, xe máy điện đi trên đường và đang dừng đỗ. Hậu quả thiệt hại về tài sản cho những bị hại với tổng số tiền theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự là 120.563.000 đồng và gây thiệt hại về sức khỏe cho 04 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 119%.
Hành vi trên của Phạm Trung S đã vi phạm Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 quy định về các trường hợp phải giảm tốc độ: “Người điều khiển PH tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau: 1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm hoặc có chướng ngại vật trên đường; 2. Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế..5. Qua khu vực..đông dân cư..”...8. Tránh xe chạy ngược chiều hoặc khi cho xe chạy sau vượt”; Điều 17 Luật Giao thông đường bộ quy định về tránh xe đi ngược chiều: “1. Trên đường không phân chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, hai xe đi ngược chiều tránh nhau, người điều khiển phải giảm tốc độ và cho xe đi về bên phải theo chiều xe chạy của mình.”
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Trung S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất V án là nghiêm Tr, hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến an toàn công cộng, trật tự công cộng mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Chính vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm tương tự xảy ra.
- Về tinh tiết đi ̣nh khung hinh phạt:
̀
̀
Bị cáo Phạm Trung S đã có hành vi thiếu quan sát, không giảm tốc độ đến mức an toàn nên đã gây ra tai nạn liên hoàn với các xe ô tô, xe mô tô, xe máy điện đi trên đường và đang dừng đỗ. Hậu quả thiệt hại về tài sản cho những bị hại với tổng số tiền theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự là 120.563.000 đồng và gây thiệt hại về sức khỏe cho 04 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 119%. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tình tiết định khung quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Về nhân thân: Bị cáo Phạm Trung S nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt: Sau khi phạm tội bị cáo ra Cơ quan công an đầu thú để khai báo hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ cho tất cả các bị hại, bị hại không có yêu cầu gì khác, đồng thời đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được áp dụng đối với bị cáo khi quyết định hình phạt. Xét bị cáo phạm tội với lỗi vô ý, có nơi cư trú rõ ràng và đang được cơ quan pháp luật cho tại ngoại, trong thời gian tại ngoại bị cáo không phạm tội nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về dân sự: Bị hại Vũ Hoài N tại phiên tòa có xuất trình tài liệu (phô tô) thể hiện sau khi bị cáo đã bồi thường số tiền 150 triệu đồng cho bị hại, bị hại đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự và không còn yêu cầu nào khác đối với bị cáo, đến nay bị hại N còn điều trị thêm và phát sinh chi phí 57 triệu đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường, tuy nhiên, sau đó bị hại N đề nghị được tự thỏa thuận với bị cáo, nếu không thỏa thuận được thì bị hại sẽ khởi kiện bằng một V án dân sự khác nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tất cả các bị hại khác có đơn trình bày do đã được bị cáo bồi thường đầy đủ nên không có yêu cầu nào khác, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe ô tô Biển kiểm soát 15A-185.65 do Phạm Trung S điều khiển gây tai nạn và các PH tiện liên quan trong V án, sau khi hoàn tất các thủ tục điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã trả lại cho bị cáo và các chủ sở hữu hợp pháp, do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c, d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trung S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Trung S cho Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Phạm Trung S thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng V2 bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa V 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 45, điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với Phạm Trung S.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường V Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Trung S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV 06 Công an TP. Hải Phòng; - CA quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - UBND nơi cư trú của bị cáo; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ V án, HCTP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh Như THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh Như |