vanban.org

Bản án 34/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 12/06/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249,

điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Trần Công L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG RIỀNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST
Ngày 12/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG RIỀNG, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lữ Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hà Bửu Khánh

2. Ông Trương Thanh Tuấn

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thái Trang– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2024 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Công L (tên gọi khác: không), sinh ngày 05/5/2001 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Trần Bạch Đ, sinh năm 1980 và cha (Không rõ); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/12/2023 (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào chiều ngày 16/12/2023, Lê Văn V sinh năm 1999, nơi thường trú: ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang là anh rể bà con với Trần Công L sinh ngày 05/5/2001 cư trú ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang gọi điện thoại cho Trần Công L rủ qua nhà chơi, L đồng ý. Sau đó L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51L5-0741 đến nhà V. Tại đây, V kêu L chở đi mua ma túy về sử dụng, L đồng ý và điều khiển xe mô tô của L chở V, V hướng dẫn đường đi cho L chạy về hướng thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Khi vừa qua cây xăng (không rõ tên và địa chỉ) tới một khoảng đất trống, V kêu L dừng xe, nói đã đến nhà người bán ma túy tên B. Lúc này, V đưa cho L 1.000.000đ (một triệu đồng) để vào mua ma túy, còn V đứng ngoài lộ đợi. L nhận tiền, điều khiển xe vào sân nhà người tên B, đứng ở hàng ba hỏi mua 1.000.000đ (một triệu đồng) chất ma túy thì có giọng của người nữ (không thấy mặt) đứng bên trong thông qua khe hở của cửa nhà và kêu L đưa tiền, L đưa 1.000.000đ (một triệu đồng), người này nhận tiền, sau đó đưa cho L 01 (một) bịch ma túy đá. Khi có ma túy, L cầm trên tay trái điều khiển xe ra lộ nhựa chở V về nhà của V. Sau đó, V kêu L chia nhỏ chất ma túy vừa mua ra nhiều phần nhỏ để sử dụng dần, đồng thời mang bình hút ma túy ra xúc một ít chất ma túy từ bịch ma túy vừa mua vào nỏ thủy tinh để vừa chia nhỏ ma túy, vừa sử dụng. L và V cùng chia chất ma túy vào 02 (hai) bịch nylon và 05 (năm) đoạn ống hút rồi hàn kín lại. Lợi dụng lúc V đang sử dụng ma túy không để ý, L đã lấy 01 (một) bịch ma túy vừa chia ra giấu vào ví và để vào túi quần phía sau bên phải L đang mặc. Sau khi cả hai sử dụng ma túy xong, V kêu L cất giữ toàn bộ số ma túy vừa chia ra được, khi nào muốn sử dụng sẽ qua nhà L để lấy, L đồng ý và lấy số ma túy trên bỏ vào vỏ gói thuốc HERO, để trên võng xe của L.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày Trần Công L điều khiển xe đi về nhà. Trên đường đi, do muốn sử dụng ma túy nên khi tới một khoảng đất trống L dừng xe lấy 01 (một) đoạn ống hút màu hồng sọc trắng được hàn kín có chứa chất ma túy từ gói HERO ở võng xe, mục đích để sử dụng. Lúc này, do không có chỗ ngồi để sử dụng ma túy nên L đã cầm đoạn ma túy này trên tay trái, tiếp tục điều khiển xe tìm chổ để sử dụng ma túy. Cùng lúc này tổ tuần tra của Công an xã H tuần tra trên tuyến đường thuộc ấp X, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang phát hiện Trần Công L đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 51L5 - 0741 có nhiều biểu hiện nghi vấn nên ra tín hiệu dừng phương tiện để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong ví để trong túi quần phía sau bên phải L đang mặc có 01 (một) bịch nylon hàn kín (bịch nhỏ). Tiếp tục kiểm tra, phát hiện trong vỏ gói thuốc HERO để ở võng (baga giữa) của xe mô tô có 01 (một) bịch nylon được hàn kín (bịch lớn) và 04 (bốn) đoạn ống hút nhựa được hàn kín, gồm: 03 (ba) đoạn màu hồng sọc trắng và 01 (một) đoạn màu cam sọc trắng và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý để trong yên xe (Không có chứa chất ma tuý). Ngoài ra, khi kiểm tra khu vực xung quanh thì phát hiện dưới đất tại vị trí L đứng có 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu hồng sọc trắng được hàn kín. Bên trong tất cả các bịch nylon và các đoạn ống hút trên đều có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là chất ma túy, cùng thu giữ nhiều tang vật có liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 1314/KL-KTHS ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Nhiều hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất chứa trong 02 (hai) bịch nylon và 05 (năm) đoạn ống hút được niêm phong gửi gám định là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,6980 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CĐ, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

* Về vật chứng thu giữ tại biên bản phạm tội quả tang:

- 02 (hai) bịch nylon trong suốt được hàn kín, kích thước lần lượt là: 2,3 x 2,3 cm, 02 x 1,7 cm và 05 (năm) đoạn ống hút được hàn kín hai đầu, gồm: 04 (bốn) đoạn màu hồng sọc trắng được hàn kín hai đầu, có chiều dài lần lược là: 3,1 cm; 2,8 cm; 2,6 cm, 2,4 cm và 01 (một) đoạn ống hút màu cam sọc trắng chiều dài 4,1 cm. Bên trong các đoạn ống hút và các bịch nylon ở trên đều có chứa nhiều hạt tinh thể, không đồng nhất nghi là chất ma túy được niêm phong theo quy định.

- 01 (một) cái bóp (ví da) màu nâu đen, đã qua sử dụng.

- 01 (một) vỏ gói thuốc HERO.

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) ly thủy tinh cắt ghép với vỏ chai nhựa tạo thành bình tự chế, bên trong có nhiều hột xí ngầu, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ gắn nỏ thủy tinh và ống hút.

- 02 (hai) bật lửa gồm: 01 (một) bật lửa có hột xí ngầu bên trong, đã hỏng, không sử dụng được và 01 (một) bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.

- 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại, dài 11,5 cm.

- 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 51L5-0741, màu đỏ, số khung: RRKWCH0UM5XE03076, số máy: VTT01JL1P52FMH003076, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

* Vật chứng còn lại sau giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 1314/2023, trên đó có chữ ký giám định viên Thái Thị Thanh T, người chứng kiến niêm phong Hồ Quốc T1 và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,6318 gam.

Tại bản cáo trạng số: 29/CT- VKS- CT ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Công L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng vẫn giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Công L về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Công L từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, không có nghề nghiệp nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; xử:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái bóp (ví da) màu nâu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ gói thuốc HERO; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) ly thủy tinh cắt ghép với vỏ chai nhựa tạo thành bình tự chế, bên trong có nhiều hột xí ngầu, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ gắn nỏ thủy tinh và ống hút; 02 (hai) bật lửa gồm: 01 (một) cái có hột xí ngầu bên trong, đã hỏng, không sử dụng được và 01 (một) cái màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại, dài 11,5 cm và Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 1314/2023, trên đó có chữ ký giám định viên Thái Thị Thanh T, người chứng kiến niêm phong Hồ Quốc T1 và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,6318 gam.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 51L5-0741, màu đỏ, số khung: RRKWCH0UM5XE03076, số máy: VTT01JL1P52FMH003076, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng.

Bị cáo được nói lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, thể hiện: Trần Công L là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 19 giờ ngày 16/12/2023 Công an xã H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Công L, sinh ngày 05/5/2000 cư trú ấp T, xã H, huyện G, tỉnh Kiên Giang đang cất giữ 0,6980 gam ma túy, loại Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, STT 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của chính phủ.

Đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự thì: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:….; c) Methamphetamin có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”.

Như vậy, hành vi của bị cáo cất giấu 0,6980 gam ma túy loại Methamphetamin để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như đã viện dẫn nêu trên. Do đó, có cơ sở kết luận cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng truy tố bị cáo tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi của Lê Văn V là người cùng đi mua ma túy với L, ngoài lời khai của bị cáo L không có chứng cứ khác chứng minh khác đồng thời V đã bỏ địa phương đi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện G không thể mời đối tượng làm việc để xác minh vấn đề trên. Vì vậy, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G sẽ tiếp tục điều tra, làm rõ; nếu có cơ sở sẽ tiến hành xử lý theo quy định.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo gây ra: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, Bị cáo có đủ năng lực để nhận thức được rằng: Ma túy là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước quản lý, nghiêm cấm mọi hoạt động tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy, mà bất kỳ ai có hành vi xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực nhận thức rõ hậu quả của việc sử dụng ma túy không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, đạo đức cũng như kinh tế của chính bản thân bị cáo mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương đồng thời còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Mặc dù nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng với lối sống buông thả, không có trách nhiệm với bản thân nên khi nghe V nhờ bị cáo chở đi mua ma túy về sử dụng thì bị cáo đồng ý đồng thời sau khi cùng V sử dụng xong số ma túy còn lại bị cáo còn cất giữ để sử dụng thì bị phát hiện và bắt quả tang để rồi hôm nay phải chịu sự nghiêm trị của pháp luật.

Trong tình hình tội phạm về ma túy đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và an ninh trật tự như hiện nay thì hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm, để răn đe giáo dục nhằm ngăn chặn và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét cho bị cáo khi lượng hình là phù hợp.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hội đồng xét xử thấy rằng bản thân bị cáo là người nghiện ma tuý, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) cái bóp (ví da) màu nâu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ gói thuốc HERO; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) ly thủy tinh cắt ghép với vỏ chai nhựa tạo thành bình tự chế, bên trong có nhiều hột xí ngầu, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ gắn nỏ thủy tinh và ống hút; 02 (hai) bật lửa gồm: 01 (một) cái có hột xí ngầu bên trong, đã hỏng, không sử dụng được và 01 (một) cái màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại, dài 11,5 cm; Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 1314/2023, trên đó có chữ ký giám định viên Thái Thị Thanh T, người chứng kiến niêm phong Hồ Quốc T1 và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,6318 gam. Đây là những vật chứng thu giữ trong vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần xử tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Đối với 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 51L5-0741, màu đỏ, số khung: RRKWCH0UM5XE03076, số máy: VTT01JL1P52FMH003076, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động, xét thấy xe này của anh Ngô Hoàng P mua lại của anh Phạm Văn Q đồng thời anh P cũng xác nhận đã cho lại bị cáo và bị cáo đã sử dụng xe này để đi mua ma tuý và cất giữ ma tuý trên xe đồng thời tại phiên toà bị cáo cũng không yêu cầu nhận lại xe nên cần xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp theo quy định pháp luật.

Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249,

điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Trần Công L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Công L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 16/12/2023.

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

4. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái bóp (ví da) màu nâu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ gói thuốc HERO; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) ly thủy tinh cắt ghép với vỏ chai nhựa tạo thành bình tự chế, bên trong có nhiều hột xí ngầu, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ gắn nỏ thủy tinh và ống hút; 02 (hai) bật lửa gồm: 01 (một) cái có hột xí ngầu bên trong, đã hỏng, không sử dụng được và 01 (một) cái màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc kéo bằng kim loại, dài 11,5 cm; Mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu vụ số 1314/2023, trên đó có chữ ký giám định viên Thái Thị Thanh T, người chứng kiến niêm phong Hồ Quốc T1 và hình dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh K. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng là 0,6318 gam.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 51L5-0741, màu đỏ, số khung: RRKWCH0UM5XE03076, số máy: VTT01JL1P52FMH003076, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động.

Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng đang quản lý theo quyết định chuyển giao vật chứng số: 20/QĐ-VKSCT ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trần Công L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ