vanban.org

Bản án 34/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/01/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hấu Ngọc M; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2023/HS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. [2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hấu Ngọc M - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-PT
Ngày: 17-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hương

Các Thẩm phán:

Bà Phan Thị Thu Hương

Bà Nguyễn Thị Lệ Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 416/2023/TLPT-HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Hấu Ngọc M do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 163/2023/HS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hấu Ngọc M, sinh năm 1980 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Ấp X, xã Y, huyện O, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hấu Phủ S (đã chết) và bà Trần Thủ K, sinh năm 1954; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có vợ là Gịp Nhì M1, sinh năm 1983 và có 03 con: lớn nhất, sinh năm 2002; nhỏ nhất, sinh năm 2009;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 05/6/2020, bị Công an huyện Trảng Bom ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã nộp phạt vào ngày 04/5/2023.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/01/2023, đến ngày 01/02/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Hiện bị cáo đang tại ngoại. (Có mặt)

Ngoài ra, còn có các bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 23/01/2023, Giềng H cùng một số đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) đến quán nước “G” thuộc khu X1, ấp Y1, xã O1, huyện O do ông Lấy A D làm chủ. Sau đó H cùng Chắng Cắm S1, Vòng Phần S2; Hấu Ngọc M, Sỳ A M2; Sông Lỷ C, Dương A L; Trần Văn E; Lý Sám C1, Sỳ Cún D1; Thòng Cắm B, Lỷ A S3; Trần Mộc S4; Võ Văn Đ, Vòng Hưng C2 và 01 số đối tượng (không rõ nhân thân lai lịch) tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền. Hình thức đánh bạc “Tài - Xỉu”, số tiền đặt cược từ 10.000 đồng đến 2.000.000 đồng. Các con bạc đánh bạc đến 15 giờ 50 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Trảng Bom bắt quả tang, một số đối tượng bỏ chạy không xác định được nhân thân lai lịch.

Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 10.530.000 đồng trên chiếu bạc (gồm số tiền 3.530.000 đồng của các đối tượng bị bắt quả tang và 7.000.000 đồng giữa chiếu bạc của các đối tượng bỏ chạy), số tiền 33.840.000 đồng trong người các đối tượng sử dụng để đánh bạc, 01 bộ dụng cụ lắc “Tài xỉu” gồm 03 hột xí ngầu, trên mỗi hột ký hiệu từ 01 chấm tròn đến 06 chấm tròn; 01 hộp nhựa quấn băng keo màu đen, 01 cái đĩa bằng sứ, 01 tấm ni lông hai bên có ghi chữ tài và xỉu, đánh số từ 4 đến 17; 07 điện thoại di động các loại và 07 xe mô tô gắn các biến số 60B8-847XX; 48K1-102XX; 60B8-614XX; 60FL-93XX; 60M1-41XX; 60S1-97XX; 60H1-556XX.

Quá trình điều tra xác định như sau:

Hấu Ngọc M mang theo và sử dụng số tiền 950.000 đồng để đánh bạc lắc tài xỉu cùng với Giềng H, Vòng Phần S2, Chắng Cắm S1, Sỳ A M2, Sông Lý C, Dương A L, Trần Văn E, Lý Sám C1, Sỳ Cún D1, Thòng Cắm B, LỷA S3, Trần Mộc S4, Võ Văn Đ, Vòng Hưng C2 và một số đối tượng không rõ nhân thân lai lịch. Quá trình đánh bạc thua 100.000 đồng. Khi bị bắt M bị tạm giữ số tiền: 150.000 đồng trên chiếu bạc và 700.000 đồng trong người, 01 xe mô tô biển số 60B8-614XX và 01 điện thoại di động Iphone 7.

Ngoài ra, còn có 13 bị cáo khác tham gia, sử dụng số tiền từ 50.000 đồng đến 10.500.000 đồng để đánh bạc.

Ngày 31/01/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Giềng H (hiện đã bỏ trốn), Vòng Phần S2, Hấu Ngọc M, Sỳ A M2, Sông Lý C, Dương A L, Trần Văn E, Lý Sám C1, Sỳ Cún D1, Thòng Cắm B, Lỷ A S3, Trần Mộc S4, Vòng Hưng C2, Võ Văn Đ, Chắng Cắm S1 để điều tra. Quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Về xử lý vật chứng thu giữ: Đã được cấp sơ thẩm xử lý đúng quy định pháp luật.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2023/HS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Hấu Ngọc M 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải để chấp hành án nhưng được trừ đi thời hạn bị tạm giữ từ ngày 24/01/2023 đến ngày 01/02/2023.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt tiền các bị cáo trong vụ án từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 16/8/2023, bị cáo Hấu Ngọc M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt chuyển qua hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc án treo. Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm vụ án:

Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Hấu Ngọc M 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo đã cung cấp Đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn, gia đình có con nhỏ, mẹ già yếu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa án sơ thẩm chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Hấu Ngọc M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, cụ thể:

Vào khoảng 11 giờ ngày 23/01/2023 tại quán nước “G” thuộc ấp Y1, xã O1, huyện O, các bị cáo Vòng Phần S2, Hấu Ngọc M, Sỳ A M2, Sông Lỷ C, Dương A L, Trần Văn E, Lý Sám C1, Sỳ Cún D1, Thòng Cắm B, Lỷ A S3, Trần Mộc S4, Vòng Hưng C2, Võ Văn Đ, Chắng Cắm S1 đã đánh bạc ăn thua bằng tiền với nhau dưới hình thức lắc “Tài – Xỉu”. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 44.370.000 đồng (Bốn mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi ngàn đồng). Trong đó, bị cáo M sử dụng 950.000 đồng để đánh bạc. Tại thời điểm bắt quả tang, bị cáo M thua 100.000 đồng; bị tạm giữ số tiền 150.000 đồng trên chiếu bạc và số tiền 700.000 đồng trong người.

Với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Hấu Ngọc M đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình, trật tự trị an xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác nên cần có mức hình phạt phù hợp đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xử phạt: Bị cáo Hấu Ngọc M 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” là có cơ sở.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ chuyển qua hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc cho bị cáo hưởng án treo và tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới, cụ thể: Đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, hiện bị cáo đang phải chăm sóc mẹ già, thường xuyên ốm đau và nuôi 03 con nhỏ ăn học. Sau khi phạm tội luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước và địa phương.

Qua xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp (3/12) nên am hiểu pháp luật hạn chế. Bị cáo M tuy có nhân thân xấu, nhưng đã được xóa án tích theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) “người được xóa án tích coi như chưa bị kết án” và bị cáo sử dụng số tiền để đánh bạc không lớn 950.000 đồng (trong dịp tết cổ truyền). Tại thời điểm bắt quả tang, bị cáo M thua 100.000 đồng; bị tạm giữ số tiền 150.000 đồng trên chiếu bạc và số tiền 700.000 đồng trong người; thuộc trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải có hoàn cảnh khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để chấp nhận kháng cáo như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ (do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không khấu trừ thu nhập của bị cáo) và giao cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục là đủ nghiêm; bị cáo có cơ hội sửa chữa, sống có ích cho gia đình và xã hội thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hấu Ngọc M; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2023/HS-ST ngày 10/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

[2] Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt: Bị cáo Hấu Ngọc M 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 24/01/2023 đến ngày 01/02/2023 là 09 ngày tương đương 27 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ còn lại bị cáo phải chấp hành là 05 (Năm) tháng 03 (Ba) ngày.

Thời hạn bị cáo thi hành án được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Hấu Ngọc M vì có hoàn cảnh khó khăn.

Giao bị cáo Hấu Ngọc M cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện O, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ