vanban.org

Bản án 34/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà L Th S:

Về quan hệ hôn nhân: Bà L Th S được ly hôn ông Ng X. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sương - Xinh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà L Th S:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THĂNG BÌNH
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-01-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Sang

2. Bà Trần Thị Thu Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Quốc Việt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 314/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà L Th S, sinh năm: 1986

Bị đơn: Ông Ng X, sinh năm: 1978

Cùng địa chỉ: tổ 5, thôn Ngọc Sơn Tây, xã B Ph, huyện T B, tỉnh Quảng Nam.

(Các đương sự có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/10/2023, quá trình hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn bà L Th S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà L Th S và ông Ng X tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiên Cảnh huyện Tiên Phước vào ngày 16/08/ 2009. Quá trình chung sống xẩy ra mâu thuẫn do ông Xinh thường xuyên cờ bạc, rượu chè xay xỉn, không có trách nhiệm với vợ con, chưởi mắng, doạ đánh đuổi bà và con ra khỏi nhà. Việc chung sống khiến bà và con gái bị áp lực về thể chất và tinh thần nên từ tháng 07/2023 đến nay bà và con gái sống ly thân với ông Xinh. Tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên bà Sương yêu cầu được ly hôn với ông Xinh.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Ngọc Kim Anh, sinh ngày 11/11/2009, bà Sương có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kim Anh, không yêu cầu ông Xinh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Bà Sương không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản trả lời ý kiến ngày 02/11/2023, quá trình hòa giải và tại phiên toà, bị đơn ông Ng X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian và điều kiện kết hôn như bà Sương trình bày là đúng. Ông Xinh thừa nhận vợ chồng chung sống không hợp, hay cãi nhau, bà Sương có biểu hiện bạn bè ngoài chồng vợ khiến ông nghi ngờ ghen tuông nên ông có đánh bà Sương, bà Sương và con bỏ đi từ tháng 07/2023 đến nay. Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Sương, ông Xinh không đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Ngọc Kim Anh, sinh ngày 11/11/2009. Ông Xinh cũng có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà Sương cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung của vợ chồng: Ông Xinh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Tòa án nhân dân huyện Thăng Bình thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thực hiện các thủ tục tố tụng, xác định tư cách tố tụng theo đúng quy định của pháp luật; thời hạn chuẩn bị xét xử, việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn. Hội đồng xét xử thực hiện các hoạt động tố tụng tại phiên tòa đúng quy định. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L Th S, cho bà Sương được ly hôn ông Ng X.

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Ngọc Kim Anh cho bà Sương trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; vấn đề cấp dưỡng bà Sương không yêu cầu nên không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ hôn nhân: Bà L Th S và ông Ng X kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước vào năm 2009 nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Quá trình chung sống, mặc dù bà Sương và ông Xinh đều có lời khai không giống nhau về nguyên nhân mâu thuẫn, nhưng ông bà đều thừa nhận vợ chồng không hòa hợp nhau, mâu thuẫn, bất đồng giữa vợ chồng ông bà là có thật, hiện không còn tồn tại đời sống chung vợ chồng. Kết quả xác minh tại nơi cư trú của ông bà thể hiện ông Xinh thường hay cờ bạc, rượu chè, vợ chồng thường cải vả xô xát nhau. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở xác định ông Xinh đã có hành vi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân của ông bà rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn ông Ng X của bà L Th S.

Về con chung: Vợ chồng bà Sương và ông Xinh có một con chung là Nguyễn Ngọc Kim Anh, sinh ngày 11/11/2009.

Xét ý kiến của bà Sương và ông Xinh về vấn đề con chung, HĐXX nhận định: Quá trình giải quyết, cháu Kim Anh có nguyện vọng được sống với mẹ, bà Sương cũng có nguyện vọng nuôi cháu Kim Anh. Xét thấy, cháu Kim Anh đang ở độ tuổi phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi vị thành niên, cần bàn tay chăm sóc trực tiếp của người mẹ nên cần giao cháu Kim Anh cho bà Sương trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp.

Bà Sương không yêu cầu ông Xinh cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Bà L Th S phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Xét quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tó tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định: “Về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà L Th S:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà L Th S được ly hôn ông Ng X.

2. Về con chung:

Giao cháu Nguyễn Ngọc Kim Anh, sinh ngày 11/11/2009 cho bà L Th S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà L Th S không yêu cầu ông Ng X cấp dưỡng nuôi con.

Bà L Th S cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông Ng X trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì quyền lợi của con, khi cần thiết, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Án phí HNGĐ sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà L Th S phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Sương đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003439 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thăng Bình. Bà Sương đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Bà L Th S, ông Ng X có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/01/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ